Giáo huấn của tôi là hướng theo Tình yêu. Tôi có thể vứt bỏ từ Thượng đế rất dễ dàng - chẳng có vấn đề gì nhưng tôi không thể vứt bỏ được từ Tình yêu. Nếu tôi phải chọn giữa từ Tình yêu và Thượng đế, tôi sẽ chọn tình yêu; Tôi sẽ quên tất cả về Thượng đế, bởi vì những người biết tới Tình yêu nhất định biết tới Thượng đế. Nhưng không có điều ngược lại. Những người nghĩ về Thượng đế và triết lí hoá về Thượng đế chẳng bao giờ biết về Tình yêu cả - và sẽ chẳng bao giờ biết về Thượng đế nữa.

Trích “Tình yêu – Tự do – Một mình” - Osho

Osho – Từ Dục tới Siêu tâm thức - Bài nói thứ tư

Osho – Từ Dục tới Siêu tâm thức
Bài nói thứ tư


Đây là một câu chuyện. Trong một trường làng nhỏ, thầy giáo đang dạy về câu chuyện về Rama. Gần như tất cả tụi trẻ đều ngủ gà ngủ gật. Việc này chẳng phải là bất thường khi nghe kể lại về Ramayana; thậm chí người lớn cũng ngủ chợp đi vào những lúc như thế. Câu chuyện này đã được kể đi kể lại biết bao nhiêu lần nên nó mất ý nghĩa; tính mới lạ mất rồi.
Thầy giáo kể một cách máy móc, thậm chí cũng chẳng thèm liếc nhìn vào cuốn sách để mở trước mình, và thậm chí người ngoài còn có thể thấy rằng ông ấy cũng ngủ lơ mơ nốt. Ông ấy đã thuộc lòng câu chuyện và đang thuật lại các tình tiết như một con vẹt. Ông ấy chẳng nhận biết điều mình đang nói. Người thuộc điều gì đó không bao giờ biết ý nghĩa của điều mình đang nói.
Bỗng nhiên có xúc động mạnh trong lớp: viên thanh tra bước vào. Học sinh trở nên chăm chú, còn thầy giáo cũng trở nên tỉnh ra. Thầy giáo tiếp tục bài giảng.
Viên thanh tra nói, “Tôi lấy làm sung sướng được thấy thầy đang dạy về Ramayana. Tôi sẽ hỏi tụi trẻ đôi điều về Rama.” Cứ cho là tụi trẻ dễ dàng nhớ được câu chuyện về mọi sự tan vỡ hay về chiến trận, ông ta hỏi một câu hỏi đơn giản: “Nói cho tôi, ai đã bẻ gẫy cung của Shankara?”
Một cậu bé giơ tay, đứng dậy và nói: “Em xin lỗi, thưa thầy. Em đã không bẻ gẫy nó. Em nghỉ học nửa tháng nay. Và em không biết ai đã bẻ gẫy nó cả. Em muốn làm sáng tỏ điều này ngay bây giờ, bởi vì bất kì khi nào bất kì cái gì xảy ra trong trường thì em cũng là người đầu tiên bị khiển trách về điều đó.”
Điều này giáng cho viên thanh tra như một cú sét trên trời xanh. Ông ta quay sang phía thầy giáo, người vừa định giơ roi lên, và nghe thấy thầy giáo nói, “Thằng ranh con này chắc chắn là thủ phạm. Nó là đứa tồi tệ nhất trong tất cả lũ trẻ.” Ông ta gầm lên với cậu bé, “Nếu em không làm điều đó thế thì tại sao em lại đứng lên và nói rằng em không làm điều đó?” Ông ta nói với viên thanh tra, “Ông đừng có bị lừa bởi lời nói dịu ngọt của thằng bé này.”
Viên thanh tra nghĩ tốt hơn cả là đừng nói gì, cho nên ông ta đơn giản quay đi và rời khỏi lớp. Nhưng ông ta cũng điên tiết, và đi thẳng tới văn phòng hiệu trưởng để thuật lại đầy đủ sự vụ. Ông ấy hỏi để biết ông hiệu trưởng định làm gì về vụ này.
Ông hiệu trưởng cố thuyết phục ông thanh tra đừng theo đuổi vấn đề này thêm nữa. Ông ta giải thích rằng tạm thời trong những ngày đó không nên nói bất kì điều gì với học sinh. “Ai làm gẫy nó thì có vấn đề gì,” ông ấy nói, “cứ để cho vấn đề chìm đi. Trường mới yên được hai tháng qua. Trước đó, học sinh đã đập phá và đốt cháy nhiều đồ đạc. Tốt hơn cả là hãy nín thing đi. Nói bất kì cái gì với chúng trong những ngày này sẽ chỉ vời thêm rắc rối nghiêm trọng. Có thể có bãi khoá, dharna, nhịn ăn đến chết vào bất kì lúc nào!”
Viên thanh tra lặng người vì sửng sốt; ông ta hoàn toàn sững sờ. Ông ta tới ông chủ tịch hội đồng các nhà trường và kể cho ông này về tất cả những điều đã xảy ra - rằng Ramayana đã được dạy trong lớp, rằng một đứa nhỏ đã nói nó không làm gẫy cung của Shankara, rằng thầy giáo đã nói rằng đứa trẻ này phải là thủ phạm, rằng ông hiệu trưởng đã cầu xin bỏ qua vấn đề này dù ai chịu trách nhiệm, nói rằng sẽ không khôn ngoan mà theo đuổi điều này, rằng thường xuyên có mối lo sợ về bãi khoá, vân vân và vân vân. Viên thanh tra hỏi quan điểm của ông chủ tịch.
Ông chủ tịch nói ông ấy cảm thấy ông hiệu trưởng cũng khôn ngoan trong đường lối xử lí. “Hơn nữa,” ông ấy thêm, “đừng bận tâm về thủ phạm. Ai làm gẫy cung thì có là vấn đề gì, hội đồng sẽ cho sửa chữa lại nó. Sửa lại nó còn hơn là đào bới vào nguyên nhân.”
Viên thanh tra, người đã hoàn toàn phẫn nộ bởi tình huống này, kể lại kinh nghiệm đó cho tôi. Tôi bảo anh ta về cơ bản chẳng có gì mới trong câu chuyện của anh ta cả. Đấy là nhược điểm thông thường của con người cứ khoác lác về những điều chúng ta chẳng biết gì hết cả.
Không ai nhớ được phần trong Ramayana về việc làm gẫy cung của Shankara. Chẳng tốt hơn đối với họ là hỏi, “Shankara nào” sao? Nhưng không ai được chuẩn bị để thừa nhận dốt nát của riêng mình. Không người nào có được dũng cảm đó. Đây đã là cạm bẫy lớn nhất trong lịch sử nhân loại. Nhược điểm này đã chứng tỏ là mang tính tự tử. Chúng ta hành động cứ dường như là chúng ta đã biết hết mọi thứ và kết quả là làm lẫn lộn các kiếp sống của mình. Tất cả các câu trả lời của chúng ta cho tất cả các vấn đề của chúng ta đều giống như câu trả lời do cậu bé, do thầy giáo, do ông hiệu trưởng và ông chủ tịch đưa ra. Cố gắng trả lời mà không hiểu câu hỏi làm cho con người thành ngu xuẩn. Đây là việc hoàn toàn tự lừa dối mình.
Bên cạnh điều này, hãy có thái độ dửng dưng. Người dửng dưng sẽ hỏi, ‘Bây giờ, thực sự, việc gì phải làm ồn ào lên nếu chúng ta không biết ai làm gẫy cây cung của Shankara?”
Tương phản với vấn đề của câu chuyện đần độn này, còn có điều bí ẩn sâu lắng hơn trong cuộc sống, và giải pháp đúng của chúng lại tuỳ thuộc vào liệu cuộc sống có thể tử tế hay không, liệu cuộc sống có thể hài hoà hay không, liệu xu hướng hiện tại của chúng ta có là hướng đúng cho tiến bộ hay không, và vân vân. Chúng ta nghĩ là chúng ta biết các câu trả lời, nhưng hậu quả chứng tỏ cảm nhận của chúng ta về cuộc sống thực sự không thích hợp làm sao. Cuộc sống của mỗi một trong chúng ta chứng tỏ rằng chúng ta không biết gì về cuộc sống hết cả. Nếu không thì làm sao lại có biết bao nhiêu thất vọng, bao nhiêu khổ, bao nhiêu lo âu thế?
Tôi nói cùng điều này khi có liên quan cả tới tri thức chúng ta về dục. Chúng ta không biết gì về nó cả. Có lẽ bạn sẽ không đồng ý. Bạn sẽ biện minh, “Hoàn toàn có thể là chúng tôi không biết gì về linh hồn hay Thượng đế, nhưng làm sao thầy có thể nói chúng tôi không biết gì về dục cả?” Bạn có lẽ sẽ đáp lại rằng bạn có vợ và rằng bạn đã có con. Và vậy mà tôi lại dám bảo với bạn rằng bạn không biết gì về dục, mặc dầu có thể rất khó cho bạn để đồng ý với điều tôi nói. Bạn có thể đã trải qua kinh nghiệm dục, nhưng bạn không biết về dục nhiều hơn con vật. Việc trải qua một quá trình một cách máy móc thì không đủ để biết nó.
Một người đã lái chiếc xe ô tô hàng nghìn cây số, nhưng điều đó không nhất thiết ngụ ý rằng người đó biết điều gì về động cơ. Người đó có thể chế giễu phát biểu của tôi, nói rằng người đó đã lái xe hàng nghìn cây số, nhưng tôi vẫn đánh bạo đưa ra lời kết tội rằng người đó chẳng biết gì về ô tô cả. Tôi nhắc lại, lái xe là khác với việc biết máy móc bên trong.
Người ta nhấn phím và đèn sáng. Người đó lại nhấn nó và đèn tắt. Người đó đã làm điều ấy vô số lần. Người đó có thể nói rằng người đó biết tất cả về điện bởi vì người đó có thể bật đèn lên hay tắt đi theo ý muốn, và chúng ta sẽ nói rằng người đó là kẻ ngu, rằng thậm chí đến trẻ con cũng có thể bật tắt công tắc, rằng không cần có tri thức nào về điện ở đây cả.
Ai cũng có thể xây dựng gia đình. Ai cũng có thể tạo ra con cái. Điều đó chẳng liên can gì với việc hiểu về dục cả. Con vật cũng sinh sản, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng biết điều gì về dục.
Chân lí của vấn đề là ở chỗ dục vẫn còn chưa được nghiên cứu một cách khoa học. Không triết lí hay khoa học nào về dục đã được phát triển bởi vì mọi người đều tin là mình đã biết về dục. Không ai đã từng thấy nhu cầu về kinh sách về dục. Đây chính là sai lầm nghiêm trọng của loài người.
Cái ngày chúng ta phát triển hoàn toàn kinh sách, khoa học, hệ thống đầy đủ các tư tưởng về dục, chúng ta sẽ tạo ra một giống người mới. Thế thì, sẽ không có việc tạo ra những con người què quặt, yếu đuối, tẻ nhạt, xấu xí như vậy. Người ốm đau, yếu đuối, đờ đẫn sẽ không còn thấy có trên trái đất này nữa.
Không cần chút nào để tiếp tục tạo ra loại thế hệ hiện tại, một thế hệ sinh ra từ tội lỗi và mặc cảm. Nhưng chúng ta không nhận biết về điều này. Chúng ta đang trong thói quen bật tắt đèn, và đã kết luận là chúng ta biết mọi điều về điện.
Thậm chí đến cuối đời mình, con người vẫn không đi tới biết được dục là gì. Người đó chỉ biết “bật” và “tắt” - không gì hơn.
Chúng ta chưa bao giờ đi sâu vào trong chủ đề dục, chưa bao giờ suy ngẫm về việc thực hành dục, chưa bao giờ cố gắng đi tới đáy của nó, chưa bao giờ thiền về nó - bởi vì ảo tưởng rằng chúng ta biết mọi điều có đó là biết về nó. Khi mọi người đã biết mọi điều, cần gì phải xem xét chủ đề này nữa? Và theo cùng một nhịp, tôi muốn nói cho bạn rằng không có bí ẩn nào sâu sắc hơn, không có bí mật nào sâu sắc hơn, không có chủ đề nào sâu sắc hơn dục - trong thế giới này và trong bản thân cuộc sống.
Chúng ta chỉ biết về nguyên tử mới gần đây thôi, và thế giới đã trải qua sự thay đổi cực kì phi thường. Nhưng khi chúng ta thành công trong việc biết về nguyên tử của dục một cách đầy đủ, nhân loại sẽ đi vào kỉ nguyên trí huệ mới. Không thể nào tiên đoán được tầm cỡ, mức độ lớn lao của các chiều cao chúng ta có thể đạt tới khi chúng ta thăm dò quá trình và kĩ thuật của việc tạo ra cuộc sống. Nhưng một điều có thể được phát biểu là chắc chắn: dục là bí ẩn nhất, sâu sắc nhất, quí giá nhất và, đồng thời, là chủ đề hẩm hiu nhất; và chúng ta hoàn toàn trong bóng tối về nó. Chúng ta chưa bao giờ để ý tới hiện tượng quan trọng này. Con người trải qua quá trình giao hợp trong suốt cả đời mình, nhưng người ta chẳng biết nó là gì cả.
Khi, vào ngày đầu tiên, tôi nói về cái hư không, về vô ngã, về vô trí, nhiều bạn bè đã không được thuyết phục. Sau đó, một người bạn đã nói với tôi, “Tôi chưa bao giờ nghĩ về điều đó trước đây, nhưng điều ông nói đã xảy ra.” Một bà nào đó tới tôi và bảo tôi, “Tôi chưa bao giờ kinh nghiệm điều này chút nào. Khi ông nói về nó, tôi nhớ lại rằng tâm trí tôi trở nên tĩnh lặng và hài lòng, nhưng tôi chưa bao giờ cảm thấy vô ngã hay bất kì kinh nghiệm sâu sắc hơn nào.” Có thể là nhiều người cũng chưa từng nghĩ về điều này trước đây, cho nên chúng ta hãy xem xét theo quan điểm mới.
Ngay chỗ đầu tiên, con người không được sinh ra với tri thức có sẵn về khoa học dục. Hiếm người, người còn giữ lại những ấn tượng của nhiều kiếp sống quá khứ, có khả năng hiểu đầy đủ nghệ thuật về dục, về đường hướng dục hay tri thức về tính phức tạp của dục. Đây là những linh hồn có thể đạt tới trạng thái vô dục thực sự. Với người đã biết đầy đủ về thực tại dục, về quan hệ mật thiết đầy đủ của dục, dục trở thành vô dụng. Người đó đơn giản đi qua nó; người đó siêu việt lên trên nó. Nhưng trong truyền thống chúng ta không thảo luận về dục với những người đã đạt tới siêu việt. Bên cạnh đó, những người đã đạt tới thuần khiết của vô dục thì có thể nói về các lần sinh thành trước đây và các kiếp sống trước của họ chỉ sau nỗ lực khổng lồ.
Chỉ người vô dục hoàn hảo mới có thể tiết lộ ra chân lí hoàn hảo về dục và điều thiêng liêng. Người theo thuyết duy cảm không hiểu gì về những cái tinh tế và, bởi vì dốt nát của họ, các kiếp sống của họ bị nhận chìm trong dâm dục cho đến cuối cùng. Con vật có lịch biểu cho việc giao cấu như tôi đã bảo bạn trước đây; chúng có mùa vụ. Con vật đợi cho tới đúng tâm trạng, đúng tâm tính, nhưng con người không có thời gian xác định cho nó. Tại sao có điều này? Đấy là vì con vật tồn tại ở tầng dục sâu hơn con người.
Nhưng người đã nghiên cứu về dục, người đã đi sâu vào nó, người đã thiền về những kinh nghiệm nhiều kiếp, đều nêu ra rằng nếu giao hợp chỉ kéo dài một phút thì con người sẽ ham muốn nó lần nữa vào ngày hôm sau, nhưng nếu nó có thể được kéo dài trong ba phút thì người đó sẽ không nghĩ về dục trong một tuần tiếp sau. Hơn nữa, họ đã quan sát rằng nếu giao hợp có thể được kéo dài trong bẩy phút thì người đó sẽ tự do khỏi dục đến mức không ý nghĩ đam mê dục nào nảy sinh trong người đó trong ba tháng. Và nếu thời kì giao hợp có thể kéo dài ba giờ thì người đó sẽ tự do với dục mãi mãi; người đó sẽ không bao giờ ham muốn nó lần nữa!
Nhưng kinh nghiệm của con người nói chung chỉ kéo dài trong một khoảnh khắc; thậm chí khó mà tưởng tượng được thời kì ba giờ. Tuy nhiên, tôi lặp lại: nếu một người có thể vẫn còn trong tư thế giao hợp, có thể vẫn còn trong samadhi đó, trong chìm ngập ba giờ, thế thì chỉ hành động giao hợp đó cũng đủ để giải phóng người đó khỏi dục cho phần còn lại trong cuộc đời mình. Nó để lại sau một kinh nghiệm mãn nguyện, một kinh nghiệm phúc lạc đến mức nó kéo dài cả đời. Sau việc giao hợp hoàn hảo đó không còn rào chắn để đạt tới vô dục thực sự.
Thậm chí sau cả đời kinh nghiệm dục chúng ta cũng chẳng bao giờ đạt tới bất kì đâu gần cái giai đoạn tối cao đó, gần điều thiêng liêng đó. Tại sao? Người ta đạt tới tuổi già chín muồi, đi tới cuối cuộc sống của mình, nhưng người đó chưa bao giờ được tự do khỏi thèm khát dục, khỏi đam mê giao hợp. Tại sao? Bởi vì người đó chưa bao giờ hiểu mà cũng không được bảo cho về nghệ thuật dục, về khoa học dục. Người đó chưa bao giờ xem xét nó; người đó chưa bao giờ thảo luận về nó với người đã chứng ngộ.
Bạn có thể ngần ngại rằng một kinh nghiệm mà thường chỉ kéo dài một khoảnh khắc lại có thể được kéo dài trong ba giờ, cho nên tôi sẽ nêu ra cho bạn một số điểm chỉ dẫn. Nếu bạn chú ý tới chúng, cuộc hành trình tới vô dục sẽ trở nên đơn giản hơn.
Việc thở của người ta càng nhanh, thời gian giao hợp càng ngắn; hơi thở người ta càng bình thản và chậm chạp việc đó càng kéo dài hơn. Và giao hợp càng kéo dài lâu, càng nhiều khả năng từ dục tạo ra cánh cửa tới samadhi, một kênh cho siêu tâm thức. Như tôi đã nói trước đây, việc hiểu về vô ngã, về vô thời gian, bắt đầu hé mở ra cho con người trong samadhi-dục đó. Việc thở phải rất chậm. Việc làm chậm hơi thở sẽ mở ra viễn cảnh ngày càng sâu sắc hơn của nhận thức rõ.
Một điều khác cần phải nhớ trong hành động giao hợp là ở chỗ nhận biết của bạn nên được tập trung vào giữa hai con mắt, ở chỗ của agnichakra. Nếu sự chú ý được tập trung vào đó, thời hạn cực đỉnh có thể được kéo dài - thậm chí tới ba giờ. Và hành động giao hợp như vậy có thể bắt rễ chắc chắn một người vào mảnh đất của vô dục - không chỉ cho kiếp sống này mà cho kiếp sống tiếp nữa. Một bà có viết cho tôi, nói rằng Vinoba là vô dục, và hỏi do đó liệu tôi có đồng ý rằng ông ấy có thể chẳng bao giờ đã kinh nghiệm về samadhi không. Bà ấy tiếp tục nói rằng vì tôi cũng vô dục và không gia đình, rằng tôi có thể không có kinh nghiệm về samadhi. Nếu bà ấy có mặt ở đây tôi muốn bảo với bà ấy rằng cả Vinoba lẫn tôi lẫn bất kì ai khác cho vấn đề đó, đều có thể nhận biết cái giai đoạn đó và ý nghĩa của vô dục mà không cần kinh nghiệm thực về dục. Tôi cũng muốn bảo với bà ấy rằng kinh nghiệm này có thể ở kiếp sống này, hay nó có thể ở kiếp sống quá khứ. Người đã đạt tới vô dục trong kiếp sống này thì có nó cho hợp nhất giao hợp sâu sắc trong kiếp trước và không cho cái gì khác cả. Đây chỉ là việc giải thích. Nếu một người đã có kinh nghiệm sâu sắc về dục trong kiếp trước, người đó sẽ được sinh ra tự do với dục trong kiếp này; dục sẽ không quấy rối người đó, thậm chí trong tưởng tượng của người đó. Ngược lại, người đó sẽ ngạc nhiên làm sao mà mọi người khác lại hành xử về dục; người đó sẽ ngạc nhiên rằng mọi người lại điên khùng về dục thế. Người như vậy thậm chí sẽ phải cố gắng để phân biệt giữa đàn ông và đàn bà.
Nếu một người tưởng tượng mình đơn giản là vô dục từ thời niên thiếu, rằng mình có thể là người vô dục mà không có kinh nghiệm gì về dục, người đó sẽ trở thành thần kinh. Những người bao giờ cũng nói lải nhải về vô dục, người hò hét về việc tôn trọng vô dục, đang gây ra tan rã của con người. Chẳng có gì nhiều hơn tan rã có thể tới từ điều này. Vô dục không thể nào bị áp đặt; vô dục tiến hoá như tinh hoa của kinh nghiệm bên trong. Brahmacharya, vô dục, là kết quả của kinh nghiệm thanh thản và sâu lắng - và kinh nghiệm đó là về dục. Nếu trong dục người ta đã có sự khải lộ tuyệt đối, cho dù chỉ một lần, người ấy được thoát ra khỏi dục cho cuộc hành trình các kiếp sống không có tận cùng.
Cho tới nay, tôi đã thảo luận về hai nhân tố để đạt tới kinh nghiệm tuyệt đối đó: việc thở của người ta phải nhẹ, nhẹ đến mức gần như không có đó chút nào, và nhận biết của người ta nên được tập trung vào agnichakra, vào điểm giữa hai mắt. Nhận biết của người ta càng tập trung nhiều vào trung tâm này, việc giao hợp càng sâu sẽ tự động có đó. Và thời gian của giao hợp sẽ tỉ lệ trực tiếp với việc chậm của hơi thở. Và thế thì, lần đầu tiên, bạn sẽ hiểu rằng sự hấp dẫn không phải là vào việc giao hợp; lực từ hút là lực của samadhi. Nếu bạn có thể leo lên những đỉnh cao đó, nếu bạn có thể thoáng nhìn vào cái rực rỡ đó, nó sẽ chói sáng con đường tương lai của bạn.
Trong một thời gian dài con người đã nằm trong căn phòng bẩn thỉu, dơ dáy, đầy những mùi khó ngửi. Tường bị nứt nẻ và bôi bẩn. Thế rồi, người đó đứng dậy và mở cửa sổ ra. Bây giờ người đó có thể thấy mặt trời sáng lạn trên trời; bây giờ người đó có thể thấy chim chóc bay tự do trên trời. Bây giờ, người đó, người đột nhiên nhận ra bầu trời bao la, về mặt trời và mặt trăng, về chim bay, về cây cối rung rinh và hoa thơm, sẽ không còn ở trong căn phòng bẩn thỉu, hôi hám, tối tăm thêm một khoảnh khắc nào nữa - người đó sẽ chạy xô ra dưới trời rộng mở.
Người đã có thoáng nhìn về samadhi trong dục, dù thoáng qua nhanh đến đâu, đều sẽ tức khắc biết tới sự khác biệt giữa bên trong và bên ngoài, giữa tự do và cầm tù. Nhưng, theo cách nào đó, tất cả chúng ta đều được sinh ra trong xà lim chật khít, bao quanh bởi tường, và chúng đen tối và bẩn thỉu. Điều bản chất là nhận ra thế giới bên ngoài đang tồn tại; tri thức này chung cuộc gây cảm hứng cho chúng ta bay ra. Nhưng người không mở ra cánh cửa sổ và chỉ ngồi trong một góc nói mình không muốn biết về ngôi nhà bẩn thì không thể thay đổi tình trạng của mình được thêm một chút nào. Người đó sẽ vẫn còn trong ngôi nhà bẩn thỉu mãi mãi.
Người vô dục theo kiểu tự mình thì bị cầm tù rất nhiều trong xà lin của dục chứ không phải ai khác. Khác biệt duy nhất giữa người đó và bạn là ở chỗ người đó có thái độ đóng kín trong khi mắt bạn thì lại mở. Điều bạn làm về mặt vật lí, người ấy làm về mặt tinh thần. Hơn nữa, hành động vật lí là tự nhiên, nhưng tưởng tượng gián tiếp về nó lại là đồi bại. Cho nên tôi thuyết phục bạn đừng chống lại dục mà thử, một cách thông cảm, để hiểu nó. Cho dục trạng thái thiêng liêng trong cuộc sống của bạn. Chúng ta đã thảo luận về hai hướng dẫn. Điều quan trọng thứ ba cần phải nhớ là thái độ với cách tiếp cận của bạn. Vào lúc giao hợp chúng ta ở gần với Thượng đế. Thượng đế tồn tại trong chính hành động sáng tạo cho sinh thành nên cuộc sống mới, và do vậy thái độ của người ta nên giống như thái độ của người đi vào chùa chiền, đền đài hay nhà thờ. Vào lúc cực thích chúng ta ở gần nhất với điều Tối cao. Chúng ta trở thành công cụ: một cuộc sống mới đang được chuyển vận vào sự tồn tại; chúng ta tạo ra đứa trẻ. Thế nào? Trong giao hợp chúng ta ở gần nhất với bản thân Đấng sáng tạo, và cái bóng của ngài biến chúng ta thành người sáng tạo nữa. Nếu chúng ta tiếp cận tới dục với tâm trí thuần khiết và với cảm giác kính trọng, chúng ta có thể dễ dàng có thoáng nhìn về ngài.
Nhưng hỡi ôi, chúng ta tiếp cận tới dục một cách dửng dưng. Chúng ta tiếp cận tới dục với thái độ kết án, với cảm giác mặc cảm, và chúng ta không cảm thấy sự tồn tại của Đấng sáng tạo. Người ta không bao giờ nên tiếp cận tới dục trong khi người ta đang phiền não, trong thù hận, trong ghen tị, trong căm phẫn; người ta không bao giờ nên tiếp cận tới dục mà tràn đầy với lo nghĩ hay trong bầu không khí bẩn thỉu. Nhưng việc thực hành nói chung lại là ngược lại. Người ta càng cảm thấy tràn đầy giận dữ, chán nản, trong đau khổ hay thất vọng, người ta càng đi vào trong dục. Người vui vẻ không săn đuổi dục, nhưng người buồn bã lại đi vào dục bởi vì người đó thấy nó như lối thoát hoàn hảo khỏi cái bất hạnh của mình. Nhưng nhớ, nếu bạn tiếp cận dục với đắng cay, với hằn học, với kết án hay trong buồn bã, bạn sẽ chẳng bao giờ đạt tới mãn nguyện đó, tới nhận biết mà toàn bộ linh hồn bạn khao khát.
Tôi thúc giục tiếp cận tới dục chỉ khi bạn vui vẻ, chỉ khi bạn tràn đầy tình yêu và, điều cuối cùng nhưng không phải là ít nhất, chỉ khi bạn đang trong trạng thái cầu nguyện. Chỉ khi bạn cảm thấy rằng trái tim bạn tràn đầy niềm vui, an bình và biết ơn, hãy nghĩ tới giao hợp. Người tiếp cận tới giao hợp giống như vậy thì có thể đạt tới thăng hoa, và nhận biết tối thượng, thậm chí chỉ một lần, cũng đủ để giải phóng người ta khỏi dục mãi mãi. Với chỉ một kinh nghiệm, bạn có thể phá vỡ rào chắn và đi vào phần ngoại vi của samadhi.
Đứa trẻ chui ra từ bụng mẹ là nỗi buồn lớn; nó giống như cây bị bật gốc khỏi đất. Toàn bộ bản thể nó mong mỏi được nối lại với đất; sự gắn bó của nó với đất có nghĩa là cuộc sống của nó; sức sống của nó, cái nuôi dưỡng nó. Nó đã bị bật gốc rễ, và nó kêu la phản đối để trở lại, vì bây giờ nó đã bị chia rẽ khỏi đường sống. Đứa trẻ bị cắt khỏi thế giới của nó khi nó ra khỏi bụng mẹ, và bây giờ linh hồn nó, toàn bộ bản thể nó muốn hợp nhất lại với người mẹ, với cội nguồn. Niềm khao khát này là cơn khát về tình yêu. Chúng ta còn ngụ ý gì khác nữa về tình yêu?
Mọi người đều muốn say mê trong việc cho và nhận tình yêu; mọi người đều muốn hợp nhất lại với dòng suối cuộc sống - và hợp nhất đó tới trong việc hoàn thành hành động dục, trong giao hợp, trong việc nối liền đàn ông và đàn bà. Dục là việc kinh nghiệm lại sự hợp nhất nguyên thuỷ.
Việc sắp đôi đàn ông và đàn bà có ý nghĩa rất sâu sắc: bản ngã bay hơi trong sự đồng hoá này của hai con người. Người thực sự hiểu bản chất của sự hợp nhất này, của niềm khao khát về tình yêu và cái một này, cũng có thể hiểu ý nghĩa của loại hợp nhất khác - nhà yoga hợp nhất; thầy tu hợp nhất; vị thánh hợp nhất; thiền nhân hợp nhất. Người ta cũng được hợp nhất trong giao hợp: căn cước người đó gộp với căn cước của người kia, và họ trở thành một. Trong samadhi, người ta hợp nhất với toàn bộ vũ trụ và trở thành một với nó. Trong dục có sự gộp lại của hai người, trong khi trong samadhi, người ta mất đi căn cước của mình và trở thành một với vũ trụ. Cuộc gặp gỡ giữa hai người là tạm thời, nhưng hợp nhất của người ta với vũ trụ lại là vĩnh hằng.
Bất kì hai người nào cũng là những sinh linh hữu hạn, và do đó hợp nhất của họ không thể vô hạn được, không thể kéo dài mãi được. Và có cọ xát; có giới hạn của hôn nhân, và của tình yêu vật lí: chúng ta không thể hợp nhất mãi mãi. Chúng ta tới với nhau trong một khoảnh khắc cực lạc, nhưng lần nữa chúng ta phải tách ra. Phân tách này là đau đớn và do vậy người yêu liên tục trong trạng thái thất vọng. Người kia dường như là nguyên nhân cho cảm giác buồn nản này, cho cảm giác đơn độc này, và hằn học bùng phát trong mối quan hệ.
Người có hiểu biết sẽ nói rằng hai người mang hai căn cước khác nhau căn bản và rằng họ có thể gặp gỡ tạm thời nhưng không thể vẫn còn hợp nhất mãi mãi, thậm chí về mặt tâm linh; rằng chính từ đam mê không thể dập tắt nổi này mà xung đột nẩy sinh giữa những người yêu và rằng người ta bắt đầu coi khinh người kia; rằng căng thẳng, xung đột, cảm giác ghét bỏ và thậm chí cảm giác hận thù len vào, và rằng đấy là vì người ta hình dung người kia có lẽ là không sẵn sàng và do vậy hội nhập không hoàn chỉnh. Nhưng không cá nhân nào có thể bị trách cứ bởi không hoàn chỉnh này. Con người là sinh linh hữu hạn và hội nhập của họ cũng chỉ có thể là hữu hạn được thôi. Hội nhập của họ không thể mãi mãi được.
Hợp nhất vĩnh hằng chỉ có thể có với Thượng đế, với Brahma, với sự Tồn tại. Những người đã hiểu ra cái tinh tế của giao hợp thì có thể tưởng tượng ra, nếu hợp nhất của một khoảnh khắc với một cá nhân có thể ban cho niềm phúc lạc thế, thì kết quả của việc gặp gỡ với cái Vĩnh hằng sẽ phải đến thế nào. Nhưng người trung bình thậm chí không thể nào hình dung ra được cái đỉnh cực lạc đó. Nó là kì diệu, thanh tao, vượt ra ngoài lời nói. Nó là phúc lạc vĩnh hằng.
Giả sử bạn đang ngồi trước cây nến, cố gắng tưởng tượng khác biệt giữa ánh sáng của cây nến và ánh sáng của mặt trời. Nỗ lực so sánh ấy là vô vọng. Cây nến chỉ là vật tí hon thế còn mặt trời lại mênh mông thế, vào quãng sáu mươi nghìn lần lớn hơn quả đất chúng ta. Mặc dầu nó ở cách xa chúng ta chín mươi ba triệu dặm nó vẫn cấp nhiệt cho chúng ta, làm cháy sém chúng ta, cho nên làm sao chúng ta có thể ước lượng được khác biệt giữa ánh sáng của cây nến và ánh sáng của mặt trời?
Nhưng dù con số thiên văn có thể là bất kì cái gì, về mặt toán học vẫn có thể tính toán ra khác biệt bởi vì cả hai đều bên trong phạm vi nhận thúc con người; khác biệt có thể được xác định. Nhưng không thể nào xác nhận khác biệt giữa cực lạc của cực thích và phúc lạc vĩnh hằng của samadhi. Gặp gỡ dục của hai sinh linh tạm thời là điên cuồng; trong hợp nhất với Vũ trụ người ta làm mất bản thân mình giống như giọt nước trong dại dương. Không có cách nào để so sánh chúng, không có đơn vị nào để đo độ lớn của hợp nhất này.
Người ta có còn khao khát dục sau khi chạm tới niềm phúc lạc này không? Người ta thậm chí có còn nghĩ về cực thích thoáng qua này không sau khi người ta đã đạt tới đại dương vĩnh hằng? Một thoáng nhìn về cái vĩnh hằng cũng đủ thuyết phục người ta rằng cực thích là vô nghĩa, rằng trái ngược lại nó là điên khùng. Thế thì, những đam mê hiện tại của người ta chẳng mấy chốc trở thành khó chịu; thế thì, chúng dường như là làm kiệt quệ, lãng phí năng lượng, nguồn gốc của phiền não. Sau bình minh chắc chắn này lên với con người, người đó trên con đường tới mục đích mong muốn, tới bản thân vô dục.
Con đường từ dục tới samadhi là con đường dài. Samadhi là mục tiêu tối thượng; dục chỉ là bước đầu tiên. Và tôi muốn chỉ ra rằng những người từ chối thừa nhận bước đầu tiên, người chỉ trích bước đầu tiên, thì thậm chí không thể nào đạt tới bước thứ hai được. Họ không thể nào tiến bộ được chút gì. Điều bắt buộc là phải tiến bước thứ nhất có ý thức, hiểu biết và nhận biết. Nhưng cảnh giác: dục không phải là mục đích tự nó; dục là cái bắt đầu. Để tiến bộ, nhiều và nhiều bước nữa là cần thiết.
Nhưng nhược điểm lớn nhất của nhân loại đã là không thích ngay cả việc tiến bước đầu tiên. Và lại muốn đạt tới bước cuối cùng! Người coi thường bậc thang thứ nhất vậy mà vẫn tham vọng nắm lấy bậc thang cao nhất của chiếc thang; người đó không có kinh nghiệm về ánh sáng của cây nến và vậy mà người ấy lại muốn đòi cái rực rỡ của mặt trời! Điều này là không thể được. Chúng ta phải học để hiểu ánh sáng mờ nhạt của cây nến, sáng lên trong một chốc và ngay lập tức bị tắt ngấm bởi một làn gió nhẹ, để hiểu thấu ý nghĩa của mặt trời. Để khuấy động lòng khao khát, cái ham muốn, cái bất ổn về bước cuối cùng, sự thôi thúc đạt tới mặt trời, thì bước đầu tiên phải được khởi đầu cho đúng.
Việc thưởng thức đúng về nhạc nhẹ có thể lát đường cho âm nhạc vĩnh hằng; kinh nghiệm về cây nến mờ nhạt có thể đưa chúng ta tới ánh sáng vô hạn; việc biết về một giọt nước là bản dạo đầu để biết đại dương.
Tri thức về nguyên tử có thể làm lộ ra bí ẩn của tất cả các lực vật chất, của các lực về chất liệu, và vậy mà tự nhiên đã ban cho chúng ta một nguyên tử nhỏ về dục, nhưng chúng ta chẳng nhận ra nó chút nào. Chúng ta thậm chí không thừa nhận nó một cách đầy đủ. Điều này là vì chúng ta không có sáng tỏ của tâm trí, cũng không có cảm giác về cái bí ẩn để nhận ra nó, để hiểu nó hay để kinh nghiệm nó. Và do vậy chúng ta ở cực kì xa xôi với việc hiểu quá trình có thể đưa chúng ta từ dục tới samadhi. Ngay khi con người hiểu ra và tôn kính quá trình siêu việt này, người đó sẽ đưa tới trật tự mới và cao hơn của xã hội.
Đàn ông và đàn bà là hai cực khác nhau, cực dương và cực âm của năng lượng. Gặp gỡ đúng đắn của hai cực này làm hoàn chỉnh một mạch và tạo ra một loại điện. Và hiểu biết trực tiếp về điện này là có thể nếu thời kì giao hợp, khi bạn đang buông xuôi sâu sắc và đầy đủ cho lẫn nhau, có thể duy trì trong thời gian lâu hơn. Nếu nó có thể được kéo dài trong một giờ, điện tích cao tạo ra vầng hào quang điện sẽ tự nó tiến hoá; nếu dòng điện thân thể đi trọn toàn bộ và đầy đặn, người ta thậm chí còn có thể thấy một đường ánh sáng trong bóng tối. Một đôi kinh nghiệm dòng điện năng lượng này thì đang uống chiếc cốc tràn đầy nhất của cuộc sống.
Nhưng chúng ta không nhận biết gì về hiện tượng này. Chúng ta thấy bài nói như vậy là rất kì lạ bởi vì chúng ta không tin vào điều chúng ta chưa kinh nghiệm. Nhưng tôi nói, nếu bạn còn chưa gặp phải kinh nghiệm này, bạn nên nghĩ về nó và thử lại. Bạn nên ôn lại cuộc sống mình, đặc biệt chương về dục, từ ABC. Dục không nên chỉ là công cụ giải trí, nó cũng nên là phương tiện cho việc đi lên về tâm linh. Dục là quá trình logic. Tôi không nghĩ việc ra đời của Christ hay của Mahavira hay của Phật là ngẫu nhiên; mỗi sự sinh thành đều là kết quả của hợp nhất đầy đủ nhất của hai người. Hợp nhất càng sâu sắc, kết quả càng tốt hơn. Nhưng ngày nay, phẩm chất của nhân loại đang chìm xuống ngày một thấp hơn. Một số người trách cứ điều đó dựa trên suy đồi của các chuẩn đạo đức, trong khi những người khác lại coi nó là hiệu ứng của Kaliyuga, thời kì hỗn loạn đã định sẵn, nhưng tất cả các giả thuyết này đều sai và vô giá trị.
Suy đồi trong con người chính là do sự thô bỉ của thái độ chúng ta đối với dục, trong cả lí thuyết cũng như thực hành. Dục đã mất đi cái thiêng liêng nguyên thuỷ của nó. Cái cảm giác kính trọng nguyên thuỷ con người có với dục đã bị làm lu mờ. Dục đã bị suy thoái thành cơn ác mộng máy móc. Và thái độ này với dục để lộ ra bạo hành tinh vi, theo nghĩa đen của từ này. Dục không còn là kinh nghiệm của tình yêu nữa. Dục không còn là phương tiện của điều thiêng liêng. Dục không còn là hành động thiền. Và bởi vì điều này, nhân loại đang sa ngã dần vào trong vực thẳm.
Kết quả của bất kì điều gì chúng ta làm cũng đều phụ thuộc vào thái độ tâm trí chúng ta làm điều đó. Nếu nhà điêu khắc say tạc tượng, bạn có trông đợi người đó sáng tạo ra công trình nghệ thuật đẹp không? Nếu nữ diễn viên ba lê đang nhảy múa, bạn có trông đợi từ cô ấy buổi diễn điêu luyện không nếu cô ấy đang rối loạn, giận dữ hay tràn đầy buồn rầu? Tương tự, cách tiếp cận của chúng ta tới dục đã bị sai.
Dục là chuyện hay bị lãng quên nhất trong các kiếp sống của chúng ta. Chẳng phải đó là sai lầm cực kì đó sao rằng hiện tượng mà sự sinh sản của cuộc sống phụ thuộc vào, mà con cái mới phụ thuộc vào, mà linh hồn mới đi vào trong thế giới này phụ thuộc vào, lại thường bị lãng quên nhiều nhất? Bạn có lẽ không nhận biết rằng cực đỉnh trong giao hợp tạo ra tình huống trong đó linh hồn giáng xuống, và cuộc sống mới do đó được thụ thai. Bạn chỉ tạo ra hoàn cảnh thôi; khi hoàn cảnh cần thiết và thích hợp cho một linh hồn đặc biệt được đáp ứng, thì linh hồn đó được sinh ra. Phẩm chất của linh hồn này có liên quan tới hoàn cảnh đó. Con cái được thụ thai trong giận dữ, mặc cảm hay lo lắng thì bị khổ sở từ lúc sinh.
Tiêu chuẩn về con cháu chúng ta có thể được cải thiện, nhưng để thụ thai linh hồn cao cấp hơn thì hoàn cảnh cũng phải mang phẩm chất cao hơn. Chỉ thế thì những linh hồn cao siêu mới có thể được sinh ra; chỉ thế thì chuẩn cho nhân loại chung cuộc mới được nâng cao lên. Đó là lí do tại sao tôi nói rằng khi con người đã quen thuộc với khoa học về dục, với nghệ thuật về dục, khi người đó có khả năng truyền đạt tri thức này cho thanh niên và người già, chúng ta sẽ có khả năng tạo ra hoàn cảnh sẽ cho sinh thành ra điều Aurobindo và Nietzsche đã gọi là Siêu nhân. Một hậu thế như vậy có thể được sinh ra! Một thế giới như vậy có thể được tạo ra! Nhưng trước đó thì không thể có tiến bộ; trước đó thì không thể có an bình trên thế giới; trước đó thì chiến tranh không thể dự kiến trước được, hận thù không thể bị dẹp đi, vô đạo đức không thể chữa lành được, cái ác không thể nào trừ tiệt được, truỵ lạc không thể nào bị nhổ bật gốc rễ và bóng tối hiện tại không thể nào bị quét đi.
Cho dù chúng ta có bắt ép tất cả các tiện nghi và canh tân vào phục vụ; cho dù các chính khác, các nhà xã hội và các lãnh tụ tôn giáo có làm hết sức mình, chiến tranh vẫn cứ không dừng lại, căng thẳng sẽ không bị xoá đi, và bạo hành cùng ghen tị sẽ không biến mất. Trong mười nghìn năm qua, các tổ sư, chúa cứu thế và các lãnh tụ đã từng thuyết giảng chống lại chiến tranh, chống lại bạo hành, chống lại giận dữ vân vân - nhưng chẳng ai chịu nghe cả. Ngược lại, chúng ta giết người đã thuyết giảng về cẩm nang tình yêu, người đã cố gắng dạy chúng ta không bạo hành, người đã chỉ cho chúng ta con đường tâm linh. Gandhi dạy chúng ta thực hành phi bạo lực, làm thuần khiết linh hồn chúng ta, để sống trong hài hoà với nhau, và chúng ta đã thưởng cho ông ấy viên đạn. Đó là cách chúng ta bầy tỏ lòng biết ơn của mình với phục vụ cao quí của ngài.
Tất cả các tổ sư của nhân loại, cả trong quá khứ lẫn hiện tại, đều không thành công. Họ đã thất bại. Không một ý tưởng và giá trị nào được họ mường tượng và khởi xướng lại đem lại kết quả. Không người nào trong họ đã có khả năng đưa ra liều thuốc bách bệnh thực tế; tất cả các ý tưởng nghe cao siêu của họ đều thất bại. Vĩ đại hơn điều vĩ đại nhất, vàng son hơn điều vàng son nhất - tất cả đều không đạt tới gì cả. Họ đã tới, họ đã thuyết giảng, và họ đã qua đi. Và con người vẫn loạng choạng trong bóng tối, vẫn chìm sâu hơn trong một loại địa ngục trên trái đất. Điều này chẳng chứng tỏ đã có một nhận thức sai cơ bản nào đó trong giáo huấn của họ và trong điều họ đã thuyết giảng sao?
Con người thất vọng bởi vì người đó được thai nghén trong thất vọng. Người đó đem mầm mống của thất vọng từ ngay chính lúc ban đầu; chính linh hồn của người đó bị mắc bệnh. Bệnh này, bệnh ung thư khổ và buồn này, được bắt rễ trong chiều sâu của linh hồn người ấy. Toàn bộ con người của người ấy được tạo thành vào khoảnh khắc người ấy được thụ thai, và do vậy các Phật sẽ thất bại, các Mahavira sẽ thất bại, các Christ sẽ thất bại, các Krishna sẽ thất bại. Họ tất cả đều đã thất bại.
Chúng ta có thể không thừa nhận điều đó một cách công khai, do ý thức tới lịch sự hay xã giao, nhưng nhân loại đang trở nên ngày một vô nhân đạo hơn từng ngày một. Mặc cho biết bao nhiêu bài nói về bất bạo lực, tình yêu và dung thứ, chúng ta chỉ vượt lên hơn bản thân mình bằng việc tiến tới bom cô ban từ dấu chữ thập. Tôi được biết rằng chúng ta đã giết quãng ba mươi triệu người trong cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất - và sau cuộc đình chiến ngắn chúng ta đã nói về hoà bình và tình yêu. Trong chiến tranh thế giới thứ hai chúng ta đã giết bẩy mươi lăm triệu người - và sau đó chúng ta bắt đầu thương lượng về hoà bình và cùng tồn tại một lần nữa. Từ Bertrand Russell tới Vinoba, mọi người đều kêu rằng phải duy trì hoà bình, và vậy mà chúng ta lại chuẩn bị cho cuộc đại chiến thứ ba. Và theo so sánh, cuộc chiến này sẽ làm cho các cuộc chiến trước đó dường như là trò chơi trẻ con.
Ai đó có lần đã hỏi Einstein điều gì có thể xảy ra trong chiến tranh thế giới thứ ba. Einstein nói ông ấy không thể nói trước điều gì về chiến tranh thứ ba cả, nhưng điều ông ấy có thể tiên đoán cái gì đó về chiến tranh thế giới thứ tư. Rất ngạc nhiên, người hỏi hỏi thế nào, Einstein đáp rằng một điều chắc chắn về chiến tranh thế giới thứ tư, và đó là sẽ không có chiến tranh thế giới thứ tư, bởi vì không có khả năng nào cho bất kì ai còn sống sót qua chiến tranh thế giới thứ ba.
Đây là kết quả của các giáo lí đạo đức và tôn giáo của nhân loại, nhưng nguyên nhân nằm ở đâu đó và đang cần xem xét lại một cách khẩn thiết. Chừng nào và trừ phi chúng ta thành công trong việc đem lại hài hoà cho hành động dục, trong việc phổ biến cú pháp tâm linh cho dục, trong việc đi tới tôn kính dục như cánh cổng đi tới samadhi, bằng không nhân loại tốt hơn sẽ không thể nào đi vào hiện hữu được. Chừng nào điều này chưa xảy ra, chắc chắn rằng nhân loại sắp tới sẽ còn tồi hơn điều tồi tệ nhất, bởi vì con cái thấp kém của ngày hôm nay sẽ trải qua dục và sẽ tạo ra con cái còn tồi hơn bản thân chúng. Phẩm chất của từng thế hệ mới sẽ kém đi mãi; điều này ít nhất cũng có thể tiên đoán được. Nhưng chúng ta đã đạt tới mức độ thấp đến mức, nhiều nhất, cũng không có việc hạ thấp thêm nữa. Toàn thế giới đã gần trở thành một nhà thương điên khổng lồ.
Theo con số thống kê người ta đã soạn ra, các nhà tâm thần Mĩ đã suy luận ra rằng chỉ mười tám phần trăm dân số thành phố New York có thể được coi là bình thường về tâm thần. Nếu chỉ mười tám phần trăm là bình thường về tâm thần, thế thì điều kiện của tám mươi hai phần trăm còn lại là gì? Họ đang trong trạng thái tan rã thực sự. Và bản thân bạn cũng sẽ ngạc nhiên mà biết về khối lượng điên khùng đang ẩn bên trong bạn nếu bạn chỉ ngồi im lặng trong một góc và suy ngẫm về bản thân mình trong một khoảnh khắc. Cách thức bạn kiểm soát và ngăn chặn cái điên khùng của mình tuy thế lại là vấn đề khác. Một thoáng thất bại xúc động và bất kì người nào cũng đều có thể trở thành điên cuồng theo đúng nghĩa.
Hoàn toàn có thể là trong thời gian một trăm năm toàn bộ thế giới sẽ trở thành một nhà thương điên khổng lồ. Tất nhiên, một mặt, sẽ có nhiều ưu điểm: chúng ta sẽ không cần chữa trị cho điên khùng; chúng ta không cần các nhà tâm thần để chữa thần kinh. Không ai sẽ cảm thấy mình điên cả, bởi vì triệu chứng đầu tiên của người điên là ở chỗ người đó sẽ không bao giờ thừa nhận mình điên. Căn bệnh này cứ tăng lên mãi. Bệnh tật này, phiền não tinh thần này, bóng tối tinh thần này, vẫn còn tăng lên nữa. Nhân loại mới không bao giờ có thể được sinh ra trừ phi dục được thăng hoa, trừ phi hành động dục trở thành thiêng liêng.
Tôi đã nhấn mạnh vào một ý tưởng chắn chắn trong ba ngày qua: con người mới phải được sinh ra! Linh hồn của con người đang khắc khoải để leo lên các đỉnh cao, để đạt tới bầu trời, để được chứng ngộ như mặt trăng và các vì sao, để nở hoa như đoá hoa, để làm ra âm nhạc, để nhảy múa. Linh hồn con người đang trong phiền não; linh hồn con người đang khát bỏng. Nhưng con người mù quáng. Con người cứ du hành lòng vòng trong cái vòng luẩn quẩn: người đó không thể nào bứt ra khỏi nó; người đó không thể nào vươn lên trên nó. Nguyên nhân là gì? Có một nguyên nhân, và một nguyên nhân duy nhất: quá trình sinh sản hiện tại của con người là ngớ ngẩn; nó đầy những cái điên khùng. Và nó là như vậy bởi vì chúng ta đã không có khả năng làm cho dục trở thành cánh cửa tới samadhi. Hành động dục có chứng ngộ có thể mở ra cánh cổng tới samadhi.
Trong ba ngày nay tôi đã khởi thảo mới vài nguyên tắc. Bây giờ tôi muốn tóm tắt lại một điểm và thế rồi kết luận cho bài nói hôm nay.
Tôi muốn nói rằng những người đưa chúng ta ra xa khỏi chân lí của cuộc sống là kẻ thù của nhân loại. Những người bảo bạn đừng bao giờ nghĩ về dục là kẻ thù của bạn; họ đã không cho phép bạn nghĩ về điều đó, suy ngẫm về điều đó. Nếu không thì làm sao có thể có việc chúng ta vẫn còn chưa phát triển thái độ hợp lí đối với chủ đề này?
Hơn nữa, những người nói rằng dục không có liên quan gì tới tôn giáo thì hoàn toàn không đúng, bởi vì chính năng lượng dục, dưới dạng đã được biến đổi và được làm thuần khiết, đi vào cõi tôn giáo. Việc làm thuần khiết năng lượng sống này nâng con người lên những cõi mà chúng ta còn biết rất ít về chúng. Việc biến đổi năng lượng dục của mình nâng con người lên một thế giới không có chết, không có buồn, lên một thế giới không có gì ngoài niềm vui, niềm vui thuần khiết. Và bất kì ai sở hữu năng lượng này, sinh lực này, đều có thể nâng mình lên cõi giới của tâm thức vui vẻ, chân thực, tới satchitanand.
Nhưng chúng ta đã lãng phí năng lượng này. Chúng ta giống như cái gầu với lỗ thủng ở đáy, và chúng ta dùng cái gầu này để kéo nước từ giếng lên. Nhưng tất cả nước dò rỉ hết trong quá trình này và cái chúng ta kết thúc là cái gầu rỗng. Chúng ta giống như con thuyền với lỗ thủng ở đáy: chúng ta chèo thuyền chỉ để chìm. Thuyền như vậy không bao giờ có thể đạt tới bờ bên kia; định mệnh của nó là chìm ở giữa dòng. Tất cả dò rỉ này là do chệch hướng sai của luồng năng lượng dục.
Những người trưng bầy ảnh khoả thân, viết sách khiêu dâm và sản xuất phim dâm đãng không chịu trách nhiệm về dò rỉ năng lượng này. Trách nhiệm cho những loại hư hỏng này nằm ở những người đã đặt rào chắn lên con đường của hiểu biết về dục. Chính bởi vì những người này ảnh khoả thân mới thành nhu cầu, sách con lợn mới được bán, phim cởi truồng mới được làm, và chúng ta thấy những kết quả bẩn thỉu và ngớ ngẩn hàng ngày. Người chịu trách nhiệm là những người chúng ta gọi là thánh nhân và thầy tu. Nhưng nếu bạn nhìn sâu vào trong nó, bạn sẽ thấy rằng họ là những tác nhân quảng cáo thực cho khiêu dâm.
Một câu chuyện nhỏ và tôi sẽ kết thúc bài nói hôm nay.
Một linh mục nào đó vừa định tiến hành buổi lễ ở nhà thờ của làng gần đó. Ông ta gần như chạy để tới đó đúng giờ. Đi ngang qua cánh đồng trên đường, ông ấy thấy một người bị thương đang ngã sóng soài trong mương bên cạnh. Một con dao nhô ra từ ngực người này và anh ta đang bị chảy máu. Ông linh mục cân nhắc việc nâng anh ta dậy và chăm sóc anh ta, nhưng với ý nghĩ thứ hai, ông ta cảm thấy điều đó có thể làm chậm mất việc tới nhà thờ của mình. Ông ta đã chọn “Tình yêu” làm chủ đề cho buổi lễ; ông ấy đã quyết định bình về câu châm ngôn nổi tiếng của Christ, “Tình yêu là Thượng đế.” Ông ta đã chuẩn bị về mặt tinh thần lời bình luận của mình khi ông ta vội vã đi trên đường.
Nhưng người bị thương này mở mắt ra và kêu lên, “Thưa cha, con biết rằng cha đang đi tới nhà thờ để thuyết giảng buổi lễ về chủ đề tình yêu. Con đã tới dự nhà thờ nữa, nhưng bọn cướp đã đâm con và ném con xuống đây. Xin cha nghe con, nếu con còn sống con sẽ kể cho mọi người rằng một người sắp chết bên đường và rằng, thay vì cứu anh ta, cha lại chạy đi để thuyết giảng trong buổi lễ về tình yêu. Con cảnh cáo cha, chớ có bỏ con.”
Điều này làm cho linh mục hoảng sợ chút ít. Ông ta hiểu rằng nếu người này mà còn sống và kể lại sự vụ này, mọi người trong làng sẽ nói rằng buổi lễ của ông ấy tất cả chỉ là trò bịp bợm. Vị linh mục không lo lắng về người sắp chết, nhưng lo về ý kiến công chúng, cho nên ông ta tiến lại người này một cách bất đắc dĩ. Khi ông ấy tới gần hơn ông ấy thấy khuôn mặt người này rõ ràng hơn: dường như là quen quen nào đó. Ông ta nói, “Con ta, dường như là ta đã gặp con đâu đó trước đây.”
Người bị thương nói, “Ông phải đã gặp rồi. Ta là quỉ Satan, và ta có quan hệ rất lâu đời với các linh mục và nhà lãnh đạo tôn giáo. Nếu ta không quen thuộc với ông, thế thì còn ai khác sẽ có thể?”
Linh mục thế rồi mới nhớ lại anh ta một cách rõ ràng; ông ta đã thấy ảnh của người này trong nhà thờ. Ông ấy lùi lại. Ông ấy nói, “Ta không thể cứu mi. Tốt hơn cả là mi chết đi. Mi là quỉ Satan. Chúng ta bao giờ cũng muốn mi chết đi và cũng tốt là mi đang sắp chết. Tại sao ta phải cố gắng cứu mi? Thậm chí chạm vào mi cũng là tội lỗi. Ta đi đường của ta đây.”
Satan cười to và nói, “Nghe đây, cái ngày ta chết thì mi cũng thất nghiệp thôi; mi không thể tồn tại mà thiếu ta được. Mi là người mi đang là bởi vì ta đang sống; ta là cơ sở cho nghề nghiệp của mi. Tốt hơn cả là mi cứu ta đi, bởi vì nếu ta chết thì tất cả các linh mục và các nhà truyền giáo sẽ thất nghiệp. Họ sẽ trở nên tuyệt chủng; sẽ không có bất kì nhu cầu thêm nào về họ nữa.”
Linh mục nghĩ đi nghĩ lại trong một lúc và thấy chân lí trong đó. Ngay lập tức, ông ta nâng người sắp chết lên vai mình và nói, “Satan yêu mến của ta, đừng lo. Ta đang mang mi tới bệnh viện để chữa trị. Nhanh chóng mạnh khoẻ lên. Chớ có chết, lạy chúa, mi cũng phải đấy; nếu mi chết thì chúng ta sẽ thất nghiệp.”
Có lẽ bạn không thể quan niệm nổi rằng Satan là gốc rễ của tu sĩ và rằng tu sĩ đứng sau công trình của Satan, nhưng Satan rất bận rộn trong khai thác dục và khai thác dục là ở gốc rễ của mọi điều. Qua sương mù, chúng ta không thể thấy rằng tu sĩ đứng sau tất cả chấn động này, rằng dục đã trở thành ngày càng hấp dẫn hơn bởi vì thoái hoá của nó do các tu sĩ gây ra, rằng con người đã trở thành ngày một thèm khát hơn bởi vì việc nói xấu liên tục về dục của các tu sĩ. Các tu sĩ càng cố gắng triệt tiêu ý nghĩ của người ta về dục thì nó lại càng trở nên bí ẩn hơn, nó lại càng làm phát sinh tò mò hơn.
Con người bất lực; con người là nô lệ cho dục, và bất lực này là bị coi thường. Chúng ta muốn tri thức, không phải dốt nát. Tri thức về riêng nó là sức mạnh, còn tri thức về dục thì thậm chí lại là sức mạnh lớn hơn. Thật nguy hiểm mà tiếp tục sống trong dốt nát về dục.
Có thể là chúng ta không lên tới mặt trăng. Không có nhu cầu thực để lên tới mặt trăng. Loài người có thể chẳng lợi lộc gì nhiều nếu chúng ta lên tới mặt trăng, mà thế giới cũng không đi tới kết thúc nếu chúng ta không thể đạt tới chiều sâu tám cây số dưới Thái bình dương, nơi ánh mặt trời không thể xuyên thấu vào đó. Việc đạt tới những điều này sẽ không làm lợi cho loài người mấy. Cũng chẳng quan trọng ghê lắm liệu chúng ta có chẻ nguyên tử ra được hay không. Nhưng để thành công trong việc tạo ra con người mới, vấn đề của mối quan tâm tối thượng và là vấn đề cực kì cần thiết là chúng ta chấp nhận dục, là chúng ta đi tới biết đầy đủ về dục, là chúng ta hiểu nó và là chúng ta siêu việt lên trên nó.
Tôi đã giải thích đôi điều cho bạn trong ba ngày qua, và ngày mai tôi sẽ cố gắng để trả lời các câu hỏi của các bạn. Các câu hỏi của các bạn nên được đưa ra một cách trung thực; thái độ mà các bạn vừa hỏi về linh hồn và về Thượng đế sẽ không có tác dụng đâu. Đây là câu hỏi về việc sống, về cuộc sống, và chỉ nếu việc hỏi của bạn là trực tiếp và trung thực thì chúng ta có thể đào sâu vào chủ đề này được. Chân lí bao giờ cũng sẵn sàng để được khám phá; chúng ta chỉ đòi hỏi sự tò mò có ý thức, trung thực và đúng đắn để đi tới biết nó. Nhưng không may là điều đó chúng ta lại thiếu.
Xem tiếp Bài nói cuối cùng – Quay về Mục lục

Osho – Từ Dục tới Siêu tâm thức - Bài nói thứ ba

Osho – Từ Dục tới Siêu tâm thức
Bài nói thứ ba


Tôi tiếp tục lại bài nói của mình bằng một câu chuyển cổ tích. Nhiều, nhiều năm trước đây, trong một nước nào đó, có một hoạ sĩ trẻ tuổi và nổi tiếng. Anh ta quyết định tạo ra một bức chân dung thực sự vĩ đại, bức chân dung sống đầy niềm vui của Thượng đế, bức chân dung về một người có đôi mắt toả ra an bình vĩnh hằng. Và do vậy, anh ta bắt đầu tìm một ai đó có khuôn mặt phản ánh được ánh sáng vĩnh hằng, thanh thoát.
Nghệ sĩ này đi lang thang từ làng nọ sang làng kia, từ rừng nọ sang rừng kia để tìm ra chủ đề của mình, và sau cùng anh ta bắt gặp một người chăn cừu với đôi mắt toả sáng, với khuôn mặt và hình dáng mang điều hứa hẹn về một quê hương tinh tú nào đó. Một cái nhìn cũng đủ thuyết phục anh ta rằng Thượng đế đã hiện diện trong người thanh niên này.
Người nghệ sĩ này đã vẽ bức tranh về người chăn cừu trẻ. Hàng triệu bản sao bức tranh đã được in ra và bán rộng rãi. Mọi người cảm thấy rất biết ơn, chỉ vì được treo bức tranh đó trên tường nhà họ.
Sau đó hai mươi năm, khi nghệ sĩ này đã về già, ông ta quyết định vẽ một bức chân dung khác. Kinh nghiệm của ông ta đã chứng tỏ cho ông ta rằng cuộc sống không phải tất cả đều là tốt, rằng quỉ Satan cũng tồn tại trong con người. Ý tưởng về vẽ ra bức tranh Satan cứ dai dẳng mãi; nếu như ông ấy hoàn thành dự định này, thế thì hai bức tranh sẽ bổ sung cho nhau, sẽ chỉ ra con người hoàn chỉnh. Ông ta đã vẽ bức tranh về cái thiện; bây giờ ông ta muốn hoạ lại hoá thân của cái ác.
Ông ta đã gặp một người, không phải là người mà là Satan. Anh ta đi tới các ổ đánh bạc, các quán rượu và nhà điên. Chủ thể này phải đầy những lửa địa ngục; khuôn mặt anh ta phải chỉ ra tất cả cái ác độc, xấu xa và tàn bạo.
Sau tìm kiếm lâu dài, nghệ sĩ này cuối cùng gặp một tù nhân đang trong trại giam. Người này đã phạm phải bẩy lần giết người và đã bị xử treo cổ trong vài ngày tới. Địa ngục hiển nhiên có trong mắt người này; chúng toé ra căm ghét. Khuôn mặt anh ta là khuôn mặt xấu xí nhất mà người ta có thể hi vọng tìm thấy được. Người nghệ sĩ này bắt đầu vẽ anh ta.
Khi ông ta đã hoàn thành bức chân dung này ông ta đem bức chân dung trước đây lại và đặt nó bên cạnh bức tranh mới cho tương phản. Thật khó mà định giá bức tranh nào đẹp hơn theo quan điểm nghệ thuật; cả hai đều tuyệt vời. Ông ta đứng đó, nhìn vào cả hai bức tranh. Và thế rồi ông ta nghe thấy tiếng nức nở. Ông ta quay lại và thấy người tù bị xiềng đang khóc. Người nghệ sĩ này bối rối. Ông ta hỏi, “Anh bạn, sao anh lại khóc? Những bức tranh này làm xáo động anh sao?”
Người tù nói, “Tôi đã cố gắng che giấu cái gì đó với ông trong suốt mọi thời gian này, nhưng hôm nay tôi thất bại.
Ông hiển nhiên không biết rằng bức tranh thứ nhất cũng là về tôi. Cả hai bức tranh đều là về tôi. Tôi chính là kẻ chăn cừu ông đã gặp hai mươi năm trước đây trên đồi. Tôi khóc vì sự xuống dốc của mình trong hai mươi năm qua. Tôi đã sa ngã từ cõi trời xuống địa ngục, từ Thượng đế xuống quỉ Satan.”
Tôi không biết câu chuyện này đúng đến đâu, nhưng một điều là chắc chắn: cuộc sống của mỗi người đều có hai mặt trái ngược; hai bức tranh của mọi người là có thể có. Trong mọi con người cả Thượng đế và Satan đều tồn tại; trong mọi con người đều có khả năng của thiên đường, và khả năng của địa ngục. Bó hoa hồng đẹp có thể lớn lên trong con người; đống bùn cũng có thể đùn lên trong người đó. Mọi con người đều đung đưa giữa hai cực đoan đó. Con người có thể đạt tới một trong hai cực đoan này, nhưng phần lớn mọi người đều nghiêng về địa ngục. Vài người may mắn thiết tha với cái vĩnh hằng, người để cái thiện trưởng thành trong họ là hiếm hoi. Chúng ta có thể thành công trong việc làm cho các kiếp sống của chúng ta thành ngôi đền của Thượng đế không? Chúng ta cũng có thể trở thành giống như bức chân dung có thoáng nhìn về Thượng đế trong đó không?
Với câu hỏi này tôi tiếp nối bài nói chuyện hôm nay. Làm sao con người có thể trở thành sự phản xạ của Thượng đế? Làm sao có thể làm cho cuộc sống con người trở thành thiên đường, làm cho nó thơm hương, đẹp đẽ, hài hoà? Làm sao có thể làm cho con người biết rằng cái gì là bất tử? Làm sao có thể làm cho con người đi vào ngôi đền của Thượng đế?
Trong hoàn cảnh này, các sự kiện của cuộc sống chỉ ra rằng tất cả tiến bộ của chúng ta, cho tới nay, đều đã theo hướng đối lập. Thời niên thiếu chúng ta trong thiên đường, nhưng khi chúng ta lớn lên già hơn, dần dần chúng ta sa xuống địa ngục. Thế giới niên thiếu đầy những hồn nhiên và thuần khiết, nhưng chúng ta dần dần bắt đầu du hành trên con đường phủ đầy dối trá và phản bội và vào lúc chúng ta chín chắn thì ta đã già - không chỉ về vật lí mà còn cả tâm linh. Không chỉ thân thể trở nên yếu đi và hom hem, linh hồn cũng sa ngã vào trong trạng thái đổ nát nữa. Nhưng chúng ta đơn giản chấp nhận điều này; chúng ta đơn giản để cho vấn đề kết thúc ở đó. Nhưng chúng ta cũng kết liễu cả bản thân mình.
Tôn giáo mang tính định mệnh về câu hỏi này, về sự xuống dốc này, về cuộc hành trình này từ cõi trời xuống địa ngục. Nhưng cuộc hành trình này nên đảo ngược lại. Cuộc hành trình này nên là cuộc hành trình có thưởng - từ buồn tới vui, từ bóng tối ra ánh sáng, từ hữu tử tới bất tử. Thôi thúc bên trong con người là để đạt tới không chết từ cái tất chết; đây là khao khát của linh hồn bên trong nhất của con người. Việc tìm kiếm duy nhất của linh hồn là để đạt tới ánh sáng từ chỗ tối tăm. Xu thế cơ sở của năng lượng chính của chúng ta là để đạt tới chân lí từ phi chân lí.
Nhưng với cuộc hành trình đó, con người cần gìn giữ năng lượng của mình; người đó cần cho phép năng lượng của mình trưởng thành. Để leo lên chân lí, để đạt tới linh hồn, con người phải trở thành kho chứa sức mạnh vô giới hạn; chỉ thế thì người đó mới có thể đạt tới cái vĩnh hằng. Cõi trời không dành cho kẻ yếu đuối.
Tôi nhắc lại, cõi trời không dành cho kẻ yếu đuối. Chân lí của cuộc sống không dành cho những người tiêu tán năng lượng của mình, người cho phép bản thân mình trở thành nhu nhược và ẻo lả. Những người hoang phí năng lượng sống, người trở thành vô vị và bất lực bên trong, thì không thể tiến hành cuộc thám hiểm này. Nó đòi hỏi năng lượng lớn để leo lên các đỉnh cao.
Việc gìn giữ năng lượng là yêu cầu chủ chốt của tôn giáo. Nhưng chúng ta là thế hệ yếu đuối, ốm yếu, và qua việc mất năng lượng này chúng ta chìm dần vào các mức độ ngày càng yếu đuối hơn. Lực sống của chúng ta đang bị tiêu tán mất và tất cả những cái còn lại bên trong là tảng ong với các tổ khô cằn; chẳng có gì còn lại ngoài cái trống rỗng khủng khiếp. Các kiếp sống của chúng ta là câu chuyện buồn liên tục của sự mất mát; các kiếp sống của chúng ta không hữu ích chút nào.
Tại sao tình huống không hấp dẫn này tồn tại? Và làm sao chúng ta làm mất năng lượng của mình?
Lối ra lớn nhất cho năng lượng của con người là dục. Dục là sự tiêu hao liên tục, và nó nên được dừng lại. Chẳng ai thích mất cái gì cả, nhưng như tôi đã nói với các bạn trước đây, có một nguyên nhân không cưỡng nổi tại sao con người rút đi quá nhiều năng lượng của mình. Bởi vì cái thoáng nhìn phúc lạc trong dục, con người bị lôi đi, dù muốn hay không, vào việc mất năng lượng hết lần nọ tới lần kia. Toả sáng nhưng sung sướng vô ngần tạm thời, tới cùng với dục, có sức hấp dẫn con người lớn đến mức con người rơi vào việc đánh mất chính cái là cơ sở cho mọi thứ.
Nếu cùng niềm cực lạc đó có sẵn bằng những phương tiện nào đó, liệu người ta có lãng phí năng lượng của mình qua dục nữa không? Liệu có bất kì cách nào khác để thu được cùng kinh nghiệm đó không? Chẳng lẽ không có bất kì cách nào khác để hiểu chính kinh nghiệm đã được tán dương, nơi chúng ta thăm dò chỗ sâu kín nhất của linh hồn, nơi chúng ta chạm tới đỉnh cao nhất của sự tồn tại, nơi chúng ta được trao cho thoáng nhìn tái sinh của phúc lạc tinh tế và niềm vui thuần khiết, nơi tất cả các định nghĩa và tất cả những giới hạn đều bay hơi sao? Có bất kì cách nào khác không? Có bất kì kĩ thuật nào để nhận chìm vào trong vực thẳm trầm lặng bên trong chúng ta không? Liệu có bất kì quá trình nào để thống nhất với nguồn gốc vĩnh hằng của an bình và niềm vui vẫn tồn tại trong tất cả chúng ta hay không?
Tri thức này sẽ phát ra tia lửa biến đổi trong con người. Thế thì người đó sẽ quay lưng lại với Kama và sẽ hướng về Rama; thế thì cuộc hành trình của người đó sẽ là “từ thèm khát dục tới Trời.” Thế thì cuộc cách mạng bên trong sẽ xảy ra; thế thì cánh cửa mới sẽ mở ra.
Nếu con người không được chỉ cho cánh cửa mới, người đó sẽ tiếp tục xoay quanh cùng cái vòng lặp lại và cuối cùng sẽ phá huỷ bản thân mình. Nhưng ý tưởng lạc hậu về dục của con người đã ngăn cản người đó thậm chí cả việc nghĩ về bất kì cánh cửa nào khác, về bất kì lối ra cao cấp hơn nào. Và hỗn loạn chao đảo và lung tung đã được tạo ra trong cuộc đời người đó.
Tự nhiên đã ban cho con người một cánh cửa duy nhất, cánh cửa dục, nhưng các giáo lí trong nhiều thế kỉ đã đóng sầm cánh cửa đó chặt lại, đã làm tắc nghẽn lối thoát đó. Với việc thiếu lối ra thích hợp, năng lượng cuộn xoáy trong con người cứ đi vòng vo, đẩy lên một cách vô ích: làm tan rã nhân cách người đó, làm thoái hoá người đó, biến người đó thành loạn thần kinh.
Hơn nữa, con người thần kinh, tan rã này thậm chí không thể nào sử dụng được cánh cửa tự nhiên về dục, và sự ùa tới của năng lượng từ bên trong làm tan tành các bức tường và cửa sổ của bản thể người đó. Xem như kết quả nó bùng phát ra, và con người ngã và làm vỡ đầu mình, loạng choạng và làm gẫy tay chân mình. Bởi vì nó bị chứa bởi cánh cửa tự nhiên, đóng kín, và bởi vì cánh cửa siêu tự nhiên vẫn còn chưa mở ra, cho nên năng lượng dục của con người chảy ra qua lối ra phi tự nhiên. Đây là bất hạnh lớn nhất của con người. Không cánh cửa mới nào đã được mở ra, và cánh cửa cũ đã đóng lại.
Đây là lí do tại sao tôi dứt khoát chống lại các giáo lí truyền thống thù địch dục, và kìm nén dục. Chính bởi vì các giáo lí cũ, dâm dục đã không chỉ không phát triển trong con người mà còn trở nên bị hư hỏng. Phương thuốc là gì? Có cách nào khác không?
Chúng ta nhìn vào tình huống này một cách cẩn thận. Việc hiểu tới trong khoảnh khắc cực thích bao gồm hai yếu tố: vô ngã và vô thời gian. Thời gian đông cứng và bản ngã bay hơi. Bởi vì thiếu vắng bản ngã và việc dừng lại của thời gian mà người ta có một cái nhìn rõ ràng về cái ta của riêng mình - cái ta thực của người ta. Nhưng niềm vinh quang đó chỉ chốc lát, và thế rồi chúng ta lại trở lại trong cùng con đường cũ. Và đồng thời chúng ta đã làm mất đáng kể khối lượng năng lượng.
Tâm trí mòn mỏi mong chờ sự sáng lên đó; tâm trí khát khao nắm bắt nó lần nữa, nhưng ánh sáng đó, hiểu biết đó, tạm thời đến mức chúng ta hiếm khi thoáng thấy nó khi nó biến mất. Thế thì cái còn lại là thôi thúc, ám ảnh, lo âu sâu sắc để đạt tới kinh nghiệm đó lần nữa. Qua toàn bộ thời gian sống của cuộc đời mình, con người cứ cố gắng đi cố gắng lại để nắm bắt cái thoáng nhìn đó, cái kinh nghiệm vui vẻ đó, nhưng chẳng bao giờ kéo dài.
Có hai cách để đạt tới siêu tâm thức, để đạt tới cái tinh tuý của cái ta bên trong: dục và thiền. Dục là cánh cửa do tự nhiên đem lại. Dục là quá trình tự nhiên: con vật có nó; chim chóc có nó; cây cối có nó; con người có nó. Chừng nào con người còn chưa lợi dụng cánh cửa tự nhiên cho bản thân mình, người đó không ở trên cao so với con vật; người đó không thể vươn lên cao hơn con vật. Cánh cửa đó là có thể tới được với chúng. Cái ngày con người tìm ra cánh cửa mới thì có thể được xem như bình minh của tính người trong người đó. Trước lúc đó, chúng ta còn chưa là người; trước lúc đó, trung tâm của chúng ta trùng với trung tâm của con vật, với trung tâm của tự nhiên. Chừng nào chúng ta còn chưa vươn lên trên điều này, chừng nào chúng ta còn chưa siêu việt lên trên điều này, chúng ta vẫn thực sự ở mức độ của con vật. Về dáng vẻ chúng ta là con người. Chúng ta mặc quần áo cho mình như con người; chúng ta nói ngôn ngữ của con người, nhưng bên trong, tại cốt lõi, tại trung tâm, chúng ta giống như con vật. Và chúng ta có thể chẳng nhiều hơn thế. Đó là lí do cho con vật trong chúng ta bùng ra vào cơ hội sẵn có đầu tiên.
Trong sự rung động vào lúc hình thành ra Ấn Độ và Pakistan, chúng ta đi tới biết rằng con thú ăn thịt ẩn nấp đằng sau mặt nạ con người. Chúng ta đi tới biết về điều những người vẫn cầu nguyện trong các thánh đường và trích dẫn Gita trong đền đài có khả năng: họ cướp phá; họ chém giết; họ hãm hiếp. Chính những người đã được thấy cầu nguyện trong đền đài và thánh đường mới ngày hôm trước, nay được thấy đang hãm hiếp trên phố. Điều gì đã xảy ra cho họ?
Con người lấy kì nghỉ để không là con người bất kì khi nào có cơ hội nhỏ nhất để buông bỏ nghĩa vụ của mình - và con vật, đã sẵn sàng về phần nó, xồ ra. Con vật bao giờ cũng áy náy để thoát khỏi sự kiềm chế. Và con người bao giờ cũng căng thẳng - kiềm chế con vật này, xích nó lại.
Trong đám đông, trong một nhóm, con người thấy cơ hội để ném đi quần áo nhân bản mình đã chấp nhận và để quên đi bản thân mình. Trong đám đông, người đó phát triển dũng cảm để quên đi bản thân mình, để quên đi căn cước thực mà người đó đã bị kìm hãm trong đó. Con vật được thả lỏng. Như một cá nhân, không người nào phạm phải nhiều tội lỗi như người đó có trong đám đông. Người cô đơn có đôi chút sợ hãi ai đó có thể nhận ra mình; người đó lo nghĩ về cái mình đang mặc. Người cô đơn sẽ nghĩ trước hết về điều mình định làm; người đó sợ người khác có thể gọi mình là con vật. Nhưng ở giữa đám đông lớn nhiều người thì con người mất căn cước của mình; người đó không lo nghĩ về việc bị làm nhơ chút nào. Thế thì người đó là một phần của đám đông; thế thì người đó làm điều mà mọi người xung quanh người đó đang làm.
Và người đó làm gì? Người đó ném đá, người đó đốt lửa, người đó cưỡng hiếp. Như một phần của đám đông, người đó nắm lấy cơ hội để cho con vật của mình được tự do. Và đó là lí do tại sao, cứ năm đến mười năm, con người lại băn khoăn về chiến tranh, tại sao người đó bao giờ cũng nằm trong chờ đợi, hi vọng cho nổi loạn bùng ra. Nếu đấy là cái cớ cho vấn đề Hindu-Hồi giáo thì điều đó là tốt cho người đó. Nếu không, nguyên nhân Gujarati-Marathi cũng sẽ phù hợp cho mục đích của người đó. Nếu Gujarati và Marathi còn chưa chín muồi cho việc nổi loạn, thế thì xung đột giữa người nói tiếng Hindu và người không nói tiếng Hindu sẽ thoả mãn cho người đó. Người đó cần cái cớ, bất kì cớ nào, để giải phóng con thú không thể thoả mãn được bên trong.
Con vật trong con người thất vọng vì sự tù túng thường xuyên; nó tru tréo lên để đòi đi ra. Nhưng chừng nào con vật này còn chưa được chế ngự, chưa bị tiêu diệt, thì tâm thức con người chẳng bao giờ có thể vươn lên trên tính thú vật được.
Bản tính chúng ta, sinh lực của chúng ta, năng lượng của chúng ta, chỉ có một lối ra dễ dàng, và lối ra đó là dục. Bịt kín kênh đó sẽ tạo ra vấn đề, cho nên trước khi bịt nó, điều rất quan trọng là phải mở tung cánh cửa mới để cho năng lượng có thể được hướng sang chiều hướng mới. Điều này là có thể, nhưng nó vẫn còn chưa xảy ra bởi lí do đơn giản là kìm nén dễ dàng hơn nhiều so với biến đổi. Dễ dàng che đậy một điều, ngồi lên nó, hơn là xử trí nó, hơn là biến đổi nó - bởi vì điều sau này đòi hỏi nỗ lực về sadhana, về quá trình vững chắc của hành động thiền. Do đó, chúng ta đã chọn việc kìm nén bên trong về dục.
Đồng thời, chúng ta lại không nhận biết rằng chẳng cái gì có thể bị phá huỷ bởi việc đè nén; ngược lại, nó được làm mạnh thêm như việc phản động lại. Chúng ta cũng quên mất rằng việc kìm nén cái gì đó lại làm mạnh thêm sự hấp dẫn của chúng ta về nó. Cái chúng ta kìm nén không chỉ trở thành trung tâm của tâm thức chúng ta mà còn chìm vào trong các tầng sâu của tiềm thức chúng ta. Chúng ta có thể kìm nén nó trong những giờ thức, nhưng ban đêm nó sẽ loé lên qua các giấc mơ của ta. Bên trong nó chờ đợi, băn khoăn toé ra từ cơ hội nhỏ nhặt nhất.
Kìm nén sẽ không giải phóng con người khỏi cái gì cả; ngược lại, gốc rễ của nó sẽ ăn sâu thêm vào trong tiềm thức người đó và đặt bẫy người đó xem như hệ quả. Trong quá trình cố gắng dập tắt dục, con người đã làm bản thân mình vướng víu vào; người đó đã trở nên bị mắc bẫy.
Mặc dầu con vật có những giới hạn của chúng và thời kì của chúng, nhưng con người không bị giới hạn đó. Con người mang dục tính từng giờ trong cả năm. Không có ngoại lệ nào, không con vật nào trong vương quốc loài vật có nhiều dục tính tới mức độ này. Con vật có thời gian đặc biệt cho nó, một thời kì, mùa vụ; nó tới rồi nó đi. Và sau đó con vật không nghĩ về nó nữa. Nhưng nhìn vào điều đã xảy ra cho con người mà xem. Điều con người đã cố gắng kìm nén, đã cố gắng ngăn chặn, lớn vọt trong cả cuộc sống người đó. Nó là núi lửa bao giờ cũng hoạt động.
Bạn đã bao giờ quan sát rằng không con vật nào có dục tính trong mọi lúc không, nhưng con người nghiêng về dục trong mỗi và mọi tình huống? Dâm dục bốc lên bên trong con người, dường như dục là tất cả mọi thứ trong cuộc sống. Làm sao hư hỏng này xảy tới? Làm sao thảm hoạ này xuất hiện? Tại sao nó đã không xảy ra cho bất kì con vật nào? Chỉ có một nguyên nhân: con người đã làm nhiều nhất để ngăn chặn dục. Và nó đã bùng ra qua toàn bộ nhân cách của người đó theo một cách tương đương.
Và nghĩ về điều chúng ta đã làm để ngăn chặn dục! Chúng ta đã phát triển thái độ lăng mạ đối với nó; chúng ta đã phải làm đê tiện nó; chúng ta đã phải nói xấu nó. Chúng ta phải gọi nó là tội lỗi; chúng ta đã phải hô hào từ trên mái nhà, “Dục là tội lỗi!” Chúng ta đã phải tuyên bố rằng những người mê đắm trong dục là đê tiện, là đáng khinh. Chúng ta đã phải phát minh ra vô số cái tên hèn hạ cho dục để biện minh cho sự ngăn chặn của ta về chúng. Nhưng chúng ta chưa bao giờ lo nghĩ đôi khi rằng những xỉ vả và phản đối này cuối cùng sẽ đầu độc toàn bộ con người chúng ta.
Nietzche có lần đã đưa ra một phát biểu rất có ý nghĩa. Ông ấy nói rằng mặc dầu tôn giáo đã cố gắng để giết chết dục bằng việc đầu độc nó, rằng dục vẫn không chết, mà vẫn sống và tràn đầy chất độc. Đáng ra tốt hơn thì nó chết đi, nhưng nó lại không thế; nó bị đầu độc nhưng nó vẫn cứ sống tiếp. Phương sách bị tắc tị. Dâm dục ta thấy quanh mình hàng ngày - là hình ảnh thu nhỏ của dục đã bị đầu độc.
Dục cũng tồn tại trong con vật bởi vì dục là nguồn gốc của cuộc sống, nhưng dâm dục chỉ tồn tại trong con người. Không có dâm dục trong con vật. nhìn vào mắt con vật mà xem; bạn sẽ không thấy thèm khát ở đó. Nhưng nếu bạn nhìn vào mắt con người bạn sẽ chẳng thấy gì ngoài thèm khát; chẳng có gì ngoài ham muốn thô thiển về dục. Và do vậy, hôm nay, con vật là đẹp theo một cách nào đó, nhưng không có giới hạn cho cái xấu xa và mùi khó chịu của con người, con người kìm nén.
Xem như bước đầu tiên trong việc giải phóng con người khỏi dâm dục, con cái - cả con trai lẫn con gái - nên, như tôi đã bảo bạn hôm qua, nhận lấy chỉ bảo về chủ đề dục. Bên cạnh việc bản thân chúng được trao cho tri thức này, khoảng cách xấu xí và không tự nhiên giữa chúng nên bị xoá đi. Xem như vấn đề chính, chúng nên được đưa lại gần nhau nhiều hơn; phân tách hoàn toàn là phi tự nhiên.
Đàn ông và đàn bà đã trở thành các loài khác nhau. Bằng việc nhìn vào tách biệt này, vào cái ngăn nhân tạo này giữa họ, thật khó tin rằng đàn ông và đàn bà thuộc cùng một kiểu, rằng họ là hai phần của loài người. Nếu con trai và con gái được tự do đi lại trong nhà không quần áo, như khi chúng thích, điều đó sẽ bóp chết ngay từ khi còn trứng nước cái khiêu dâm và tò mò phi tự nhiên phát triển vào độ tuổi sau. Chúng ta đã biết rất rõ cách thức dốt nát này về thân thể người khác để lộ ra trong tính tò mò của con cái: nhìn cách thức tất cả con cái của con người văn minh đều thích chơi trò “bác sĩ.”
Hơn nữa, tôi tự hỏi liệu bạn có biết về một phong trào mới được khởi xướng bởi một phần xã hội Mĩ, tất cả cái gọi là những người tôn giáo. Mục tiêu của họ là chấm dứt việc đưa chó, mèo, ngựa và các con vật khác ra ngoài mà không mặc quần áo; họ muốn chúng được mặc trang phục trước khi chúng được đưa vào phố. Ý tưởng đằng sau là ở chỗ con cái có thể trở nên bị hư hỏng nếu chúng nhìn vào các con vật trần truồng. Thật là nực cười mà nghĩ con cái bị làm hư hỏng bởi việc nhìn con vật ở truồng! Nhưng dẫu sao đi chăng nữa, họ cũng đang hình thành một hiệp hội để cấm con vật không quần áo đi trên phố. Nhìn bao nhiêu điều đã được làm để cứu vớt nhân loại!
Cái gọi là các vị cứu tinh là chính những người đang phá huỷ con người. Bạn đã bao giờ để ý con vật tuyệt diệu và đẹp đẽ làm sao, cho dù không quần áo chưa? Thậm chí trong cái trần trụi của chúng, chúng vẫn hồn nhiên, đơn giản và chất phác. Bạn hiếm khi nghĩ về con vật đang ở trần, và bạn sẽ chẳng bao giờ thấy con vật nào ở trần trừ phi bạn che giấu cái trần trụi của riêng mình ở bên trong bạn! Nhưng những người sợ hãi và những người hèn nhát sẽ cố gắng bất kì cái gì và mọi thứ để bù lại cho nỗi sợ của riêng mình về cái trần trụi đó. Bởi vì việc phát minh ra những phương thuốc như vậy, nên loài người đang thoái hoá, từng ngày một.
Con người nên đơn giản đến mức người đó có thể đứng lên trần trụi, không mặc quần áo, hồn nhiên và tràn đầy phúc lạc. Một người như Mahavira đảm nhận việc đứng đấy không quần áo và, cũng như vậy, mọi người nên trau dồi tâm tính để người đó cũng có thể đứng đấy không quần áo. Mọi người, cái gọi là người tôn giáo, nói rằng Mahavira đã vứt bỏ quần áo, rằng ông ấy đã bỏ áo quần mặc. Nhưng tôi phủ nhận điều này. Chitta của ông ấy, tâm thức của ông ấy, trở nên trong trẻo, hồn nhiên - thuần khiết như tâm thức của trẻ con - đến mức ông ấy đứng dậy, trần truồng, đối diện với thế giới. Khi không có gì còn lại để che giấu, con người có thể đặt mình trần truồng.
Con người che đậy mình bởi vì người đó cảm thấy có cái gì đó bên trong cần bưng bít đi. Nhưng khi không có gì để che giấu cả, người ta thậm chí không cần mặc quần áo vào. Có nhu cầu lớn cần loại thế giới mà mọi cá nhân sẽ không thấy mặc cảm, thuần khiết của tâm trí và sự chân thành đến mức người đó sẽ có khả năng vứt bỏ quần áo mình đi.
Tội ác ở đâu? Cái gì là nguy hiểm trong việc ở trần truồng?
Vấn đề sẽ khác nếu quần áo được mặc bởi các lí do khác, nhưng nếu chúng được mặc chỉ bắt nguồn từ nỗi sợ ở trần của người ta thế thì điều này là đáng khinh bỉ. Mặc quần áo bởi vì việc kinh sợ ở truồng là chỉ dẫn về sự ở truồng còn lớn hơn, là bằng chứng cho tâm trí ô uế. Nhưng ngày nay chúng ta thấy mặc cảm thậm chí với việc mặc quần áo, dường như là chúng ta vẫn chưa có khả năng để cọ rửa đi sự tồn tại của cái trần truồng bên trong của chúng ta.
A! Thượng đế ngây thơ thế! Ngài có thể dễ dàng thế để tạo ra con người với quần áo.
Nhân tiện, xin đừng kết luận rằng tôi chống lại việc mặc quần áo. Nhưng tôi không ngần ngại tuyên bố rằng quần áo được mặc do nỗi sợ về việc ở truồng thì không che được cái trần truồng; thay vì thế, chúng lại để hở nó ra. Nhận biết phi tự nhiên này về sự trần truồng là hèn hạ, và thoái hoá. Và nhận biết này đã được qui định theo truyền thống xã hội lâu dài.
Một người có thể dường như ở trần dù mặc quần áo và người ở trần có thể dường như là có mặc quần áo. Có cần phải nói chi li thêm nữa về điểm này sau khi thấy những quần áo hiện đại, bó sát da cho cả đàn ông và đàn bà hay không? Đây là kết quả của ham muốn không được thoả mãn để liếc mắt dâm đãng và để phô trương thân thể. Nếu đàn ông và đàn bà đã quen thuộc về thân thể của nhau thì quần áo sẽ tự động phục vụ cho mỗi mục đích để bảo vệ thân thể. Nhưng hỡi ôi, ngày nay, quần áo lại được thiết kế để khêu gợi tình dục.
Nền văn minh của con người đang đi tới đâu khi quần áo không còn là quần áo mà là cái trợ giúp cho tình dục? Đây là lí do tại sao tôi lại chủ trương để cho con cái vẫn còn ở trần cho tới độ tuổi nào đó. Chúng nên hiểu rằng sự cần thiết của quần áo phải giải quyết với cái gì đó khác hơn là dục!
Hơn nữa, khái niệm về ở trần là khái niệm chủ quan. Với tâm trí đơn giản, với tâm trí hồn nhiên, việc ở trần không chướng tai gai mắt; nó có cái đẹp riêng của nó. Nhưng mãi cho tới nay, con người đã được nuôi dưỡng bằng chất độc, và dần dần, với việc chuyển thời gian, chất độc này đã lan khắp từ cực này của sự tồn tại của người đó sang cực khác. Hậu quả là, thái độ của chúng ta đối với việc ở trần hoàn toàn phi tự nhiên.
Khi tôi nói về chủ đề này vào buổi gặp đầu tiên, tại thính phòng Bharatiya Vidya Bhavan, một bà đã tới tôi và nói, “Tôi rất lấy làm khó chịu. Tôi rất bực ông. Dục là chủ đề gây tai tiếng. Dục là tội lỗi. Tại sao ông nói về nó dài thế? Tôi thực sự coi thường dục.”
Bây giờ, bạn thấy đấy, bà này coi thường dục mặc dầu bà ấy là người đàn bà đã có chồng với con trai và con gái. Làm sao bà ấy có thể yêu chồng mình, người đưa bà ấy vào dục được? Làm sao bà ấy có thể yêu con cái, những đứa đã được sinh ra từ dục? Thái độ của bà ấy với cuộc sống tràn ngập những chất độc; tình yêu của bà ấy sẽ vẫn còn là độc tố. Và do vậy nhất định có kẽ nứt sâu và cơ bản giữa người đàn bà này và chồng bà ấy. Cũng sẽ có hàng rào gai giữa bà ấy và con bà ấy bởi vì con cái, với bà ấy, là kết quả của tội lỗi. Mối quan hệ giữa bà ấy và chồng bà ấy có khuynh hướng tội lỗi; bà ấy bị ám ảnh bởi phức cảm mặc cảm vô ý thức những nơi có liên quan tới dục. Liệu người ta có thể sống trong hài hoà với tội lỗi được không?
Những người phỉ báng dục đã làm rối loạn cuộc sống gia đình của mọi người. Thay vì ban cho bất kì loại giải thoát nào, thái độ đập phá chống lại dục này đã gây tác hại sâu sắc. Người gặp phải rào chắn vô hình giữa bản thân mình và vợ mình thì không bao giờ có thể cảm thấy hài lòng với cô ấy: anh ta sẽ nhìn quanh để tìm người phụ nữa khác; anh ta sẽ đi tới gái mãi dâm. Tất cả phụ nữ trên thế giới đều có thể đã giống như người chị và người mẹ anh ta mà anh ta đã nhận được tràn đầy sự biết ơn ở nhà, nhưng bởi vì sự thiếu vắng của nó, nên anh ta bây giờ sẽ thấy tất cả phụ nữ đều là vợ tiềm năng, bao giờ cũng theo sau cái gì đó. Điều đó là tự nhiên; nó phải là như vậy. Anh ta tìm ra chất độc, sự kinh tởm, và nói về tội lỗi nơi anh ta đáng phải được ban cho phúc lạc, ban cho cực lạc và chân thành. Nhu cầu cơ bản của anh ta không phải là gặp gỡ ở nhà và do vậy anh ta lang thang ở mọi nơi, tìm kiếm để thoả mãn trong mọi xó xỉnh và ngóc ngách. Và còn cái gì con người không phát minh ra để đáp ứng cho các nhu cầu cơ sở đó! Bạn sẽ kinh ngạc nếu chúng ta cố gắng liệt kê ra tất cả mọi phương sách người đó đã đạt tới.
Con người đã đi ra khỏi con đường của mình để phát minh ra nhiều, nhiều thủ đoạn nhưng người đó chưa bao giờ nghĩ một cách cẩn thận về nhược điểm cơ bản. Bây giờ cái vốn là dòng sông của tình yêu đã trở thành vũng dục, và cái vũng này bị đầu độc. Và khi có cảm giác sắc nhọn về tội lỗi, về chất độc; khi có cảm giác ngần ngại giữa chồng và vợ, mặc cảm này đi tới chấm dứt khả năng của bất kì trưởng thành nào trong cuộc sống cùng nhau của họ.
Như tôi hiểu nó, nếu chồng và vợ có thể cố gắng đánh giá cao dục trong hài hoà và với hiểu biết tình yêu lẫn nhau, với cảm giác về niềm vui thuần khiết và không có bất kì ý nghĩa u tối nào, thế thì mối quan hệ của họ có thể được biến đổi, được nâng cao. Và sau điều này, có thể là người vợ, cũng người vợ ấy, sẽ có đó, nhưng cô ấy sẽ ở dưới dạng người mẹ!
Tôi đã nghe nói rằng vợ của Gandhi, Kasturba, có lần tới Ceylon cùng với Gandhiji và nhóm ông ấy. Trong diễn văn chào mừng của mình, người chủ nói thật là rất may phúc họ mới có vinh dự có được sự hiện diện của bà mẹ Gandhiji, người đi cùng với ông Gandhi trong chuyến đi của ông ấy và được ngồi bên cạnh ông ta. Viên thư kí của Gandhiji lấy làm bối rối. Lỗi lầm là của ông ta; trước đó ông ta đáng phải giới thiệu các thành viên trong nhóm cho người tổ chức. Nhưng thế rồi quá trễ: Gandhiji đã đối diện với chiếc microphone và đã bắt đầu bài nói chuyện của mình. Viên thư kí sợ việc khiển trách ông ta có thể phải chịu từ Gandhiji sau đó, nhưng anh ta không biết rằng Gandhiji không giận anh ta chút nào, bởi vì người phụ nữ có khả năng thay đổi từ vợ sang mẹ quả thực rất hiếm hoi.
Gandhiji nói, “Đây là sự trùng lặp hạnh phúc mà người bạn vừa giới thiệu tôi, bởi nhầm lẫn, đã nói ra chân lí. Trong vài năm trước đây Kasturba đã thực sự trở thành mẹ tôi. Vào một thời bà ấy đã là vợ tôi, nhưng bây giờ bà ấy là mẹ tôi.”
Cùng nhau, điều này có thể xảy ra. Nếu chồng và vợ góp thêm chút ít nỗ lực vào xem xét cuộc sống tình dục của mình với nhau, họ có thể trở thành bạn bè và có thể giúp lẫn nhau biến đổi dục. Và cái ngày chồng và vợ thành công trong việc biến đổi dục, cảm giác biết ơn tràn ngập được sinh ra giữa họ. Nhưng ngày nay chẳng có gì ngoài thù hận tinh tế và bẩm sinh giữa chồng và vợ. Ẩu đả thường xuyên tồn tại; chưa bao giờ có tình bạn chân thành cả.
Cảm giác biết ơn sâu sắc được sinh ra giữa chồng và vợ khi mỗi người trở thành trung gian để biến đổi ham muốn dục của người kia. Tình bạn thực sự nở hoa khi họ trở thành bạn tình trong uy thế, trong siêu việt trên dục. Cái ngày đó, người đàn ông tràn ngập với kính trọng người đàn bà bởi vì cô ấy đã giúp cho anh ta tìm được giải thoát khỏi thèm khát; cái ngày đó, người đàn bà tràn ngập lòng biết ơn với người đàn ông vì việc giải phóng cho cô ấy khỏi đam mê. Từ ngày đó trở đi, họ sống trong hài hoà thực sự của tình yêu, và không còn trong thèm khát nữa. Đây là chỗ bắt đầu của cuộc hành trình mà chồng trở thành thượng đế đối với vợ còn vợ trở thành thượng đế đối với chồng. Nhưng khả năng đó đã bị đầu độc.
Tôi đã nói hôm qua rằng thật khó tìm ra kẻ thù nào với dục lớn hơn tôi. Tôi không ngụ ý ám chỉ rằng tôi lạm dụng hay chỉ trích dục; tôi nói điều đó một cách rõ ràng, như một hướng dẫn về chiều hướng của siêu việt, như một chỉ dẫn về cách thức thèm khát có thể được biến đổi. Tôi là kẻ thù của dục theo nghĩa là tôi thiên về biến đổi than thành kim cương. Tôi muốn biến đổi dục.
Làm sao điều này có thể được thực hiện? Thủ tục là gì?
Tôi nói rằng cánh cửa khác phải được mở ra, cánh cửa mới.
Dục không ngẩng đầu lên ngay khi đứa trẻ được sinh ra. Thân thể thu thập năng lượng, các tế bào thu lấy sức mạnh, và vẫn phải có thời gian trước khi sự phát triển đầy đủ của thân thể xảy ra. Năng lượng sẽ chậm rãi tập hợp bản thân nó, và thế rồi nó sẽ mở tung cánh cửa đã từng đóng trong mười bốn năm đầu - và đây là việc giới thiệu cho đứa trẻ vào thế giới của dục.
Một khi cái cửa này được mở ra thì rất khó để mở cánh cửa mới. Bởi vì bản chất của lực sống, sinh lực hoàn toàn của người ta, toàn bộ năng lượng của người ta, xô đi theo hướng nó đã buộc mở ra. Một khi sông Hằng đã lên đường nó tiếp tục chảy đi; nó không tìm kiếm quá trình mới hàng ngày nữa. Nước tươi mát có thể đổ xuống hàng ngày, nhưng nó sẽ tiếp tục chảy qua cùng kênh đó. Tương tự, sinh lực của con người tìm ra quá trình cho bản thân nó và thế rồi nó tiếp tục du hành trên đó.
Nếu con người định chữa tình dục, điều rất quan trọng là phải tạo ra lối mở mới trước khi cánh cửa dục mở ra. Lối mở mới đó là thiền.
Mỗi đứa trẻ trong những năm non trẻ của mình nên được dạy thiền, nên được hướng dẫn vào thiền. Cáo giáo lí sai chống lại dục nên bị bãi bỏ, và thiền nên được dạy. Thiền là cánh cửa tích cực; nó là lối mở cao hơn. Việc chọn lựa giữa dục và thiền phải được thực hiện, và thiền là phương án cao siêu hơn. Đừng kết án dục; dạy cho con cái thiền.
Đối lập với dạy con cái về dục chỉ làm cảnh giác chúng với sự tồn tại của nó. Và đây là cách tiếp cận nguy hiểm cao độ. Về sau, điều đó dẫn tới những đồi bại của dâm dục chưa chín muồi. Vậy mà, khi không cánh cửa nào mở ra, khi cả hai cánh cửa đều đóng lại, khi năng lượng vẫn còn an toàn, thì không cánh cửa nào có thể được đẩy mở ra - nhưng việc thường xuyên nói lải nhải chống lại dục thì cũng giống như việc gõ vào cánh cổng của dục.
Cây non mềm mỏng có thể được uốn theo bất kì hướng nào; nó cũng có thể cúi mình khiêm tốn theo cách riêng của nó. Nhưng khi nó lớn lên, nó cứng rắn lại. Nếu bạn cố gắng uốn nó thế thì, nó sẽ trở thành méo mó, nó sẽ bị gẫy. Trường hợp ở đây cũng như vậy.
Rất khó để đạt tới trạng thái thiền khi người ta già hơn. Người già cố gắng thiền cũng giống như gieo hạt mầm sau khi mùa vụ đã qua. Hạt mầm của thiền có thể dễ dàng được gieo trong con cái, nhưng con người, như người đó hiện hữu, chỉ gieo mối quan tâm vào thiền vào quãng cuối đời mình. Thế thì người đó áy náy về thiền - khi năng lượng của người đó đã suy sụp, khi tất cả những khả năng tiến bộ đã khô héo. Chỉ thế thì người đó mới hỏi về thiền và yoga. Người đó muốn đổi mới bản thân mình khi cái chết đã an bài, khi sự biến đổi quả thực là rất khó khăn. Người với một chân trong nấm mồ mới hỏi liệu còn có thể làm được gì để đạt tới tự do thông qua thiền. Điều này thật là lạ. Ý định này hoàn toàn điên khùng.
Hành tinh này có thể chẳng bao giờ an bình được chừng nào chúng ta còn chưa dấn thân vào cuộc hành trình trong thiền tại mọi tâm trí trẻ tuổi. Nhưng cũng thật là vô ích để thử điều này với những người đã ở cuối của con đường, với những người đang vào buổi tối của cuộc đời mình. Ngay cả nếu như điều đó được họ dự định thì điều đó cũng đòi hỏi nỗ lực khổng lồ và, cũng vậy, sẽ không nhiều ưu thế cho lắm. Nhưng điều đó có thể được đạt tới nếu như điều đó đã được cố gắng sớm hơn trong cuộc đời, khi nó không cần nhiều nỗ lực đến thế.
Cho nên bước đầu tiên hướng tới biến đổi dục là bắt đầu việc thiền trong trẻ nhỏ - huấn luyện chúng bình thản và gìn giữ ý định của riêng chúng, dạy chúng im lặng và làm sang tỏ cho chúng về trạng thái vô trí. Mặc dầu trẻ con đã bình thản và an bình theo chuẩn của người lớn, nếu chúng được hướng dẫn theo đúng hướng và được dạy thực hành trầm lặng và thanh thản cho dù một chút xíu mỗi ngày, thì cánh cửa mới sẽ mở ra trước khi chúng tới độ tuổi mười bốn. Thế thì, khi dục ngẩng đầu lên, khi năng lượng này phụt lên và nó tràn đi khắp, nó sẽ chảy qua cánh cửa mới đã được mở ra. Chúng đã hiểu thanh thản, phúc lạc, niềm vui, cái vô thời gian và vô ngã của thiền từ lâu trước khi biết tới kinh nghiệm dục. Quen thuộc này sẽ ngăn cản năng lượng của chúng khỏi đi vào trong những kênh sai; nó sẽ hướng theo con đường phải.
Thay vì dạy về việc làm yên tĩnh của thiền, chúng ta dạy cho con cái ghét dục. “Dục là tội lỗi, dục là bẩn thỉu,” chúng ta nói. Chúng ta bảo nó là xấu xí và tồi tàn; chúng ta nói rằng nó là địa ngục. Nhưng chỉ việc gọi tên thì chẳng làm được bất kì cái gì để thay đổi tình huống thực tại. Ngược lại, con cái trở nên tò mò; chúng muốn biết nhiều về cái địa ngục này, về con quỉ này, về cái thứ bẩn thỉu này làm cho bố mẹ chúng và thầy cô giáo chúng hoảng sợ và kinh hãi. Chúng nhìn vào bất kì đâu và mọi nơi để tìm câu trả lời; chúng áy náy để hiểu chấn động này tất cả là gì.
Và trong một thời kì rất ngắn, con cái đi tới nhận ra rằng bản thân bố mẹ chúng cũng đang dính líu vào chính cùng việc theo đuổi đó; ngày và đêm, bố mẹ chúng đang làm chính cái điều chúng không được phép biết gì. Kết quả tức khắc và tự động của khám phá này về sự kiện đó là chấm dứt lòng ngưỡng mộ của chúng với bố mẹ chúng. Nền giáo dục hiện đại không chịu trách nhiệm, như nó nói chung được tin tưởng, đối với việc giảm đi rất nhiều trong kính trọng bố mẹ; bản thân bố mẹ đáng trách về điều này. Con cái nhanh chóng quan sát thấy nghịch cảnh; chúng nhanh chóng đi tới nhận ra rằng bố mẹ chúng hoàn toàn bị nhận chìm trong chính cái điều mà chúng đã được dạy phải ghét bỏ.
Con cái là người quan sát rất sắc bén. Chúng thấy rằng cuộc sống ban đêm của bạn khác với cuộc sống ban ngày của bạn, rằng những lời thuyết giảng của bạn và thực hành của bạn khác nhau xa thế. Chúng thấy điều vẫn cứ diễn ra trong nhà. Mặc cho điều ông bố gọi là “bẩn thỉu” và bà mẹ gọi là “xấu xí,” chúng thấy rằng cùng điều đó đang được làm ở nhà. Chúng hiểu điều đang xảy ra và, đây là trường hợp, mất tất cả sự kính trọng vào bố mẹ mình. Bố mẹ thủ đoạn, đạo đức giả, con cái kết luận.
Và nhớ, con cái đã mất niềm tin của chúng vào bố mẹ thì sẽ không bao giờ có khả năng phát triển bất kì niềm tin nào vào Thượng đế. Con cái có thoáng nhìn đầu tiên của chúng vào niềm tin, thoáng nhìn đầu tiên của chúng vào Thượng đế, là thông qua bố mẹ chúng. Nếu niềm tin này bị tan vỡ, chúng chắc chắn sẽ trở thành kẻ vô thần. Con cái có cách nhận diện đầu tiên của chúng về Thượng đế trong sự ngay thẳng của bố mẹ chúng, và nếu điều đó chứng tỏ là ảo tưởng, thì sẽ khó để hướng những đứa trẻ đó về Thượng đế. Mối quan hệ giữa chúng và Thượng đế sẽ bị tan vỡ bởi vì thiên thần đầu tiên của chúng đã phản bội chúng, bởi vì mẹ và bố chúng đã chứng tỏ là không đáng kính trọng.
Ngày nay, thế hệ hiện đại, trẻ hơn phủ nhận sự tồn tại của Thượng đế, chế giễu ý tưởng về giải thoát và gọi tôn giáo là trò bịp, không phải bởi vì chúng đã tìm kiếm cho bản thân chúng và do đó đã đi tới kết luận của riêng chúng, bởi vì sự phản bội này của bố mẹ chúng. Bố mẹ chúng đã đầy ải chúng vào cuộc sống của chủ nghĩa hoài nghi.
Cái cảm giác này về sự phản bội đã tới bởi vì dục đã được người lớn tuổi biểu thị sai. Đáng phải giải thích cởi mở cho chúng rằng dục là một phần của cuộc sống, rằng chúng ta tất cả đều được sinh ra từ dục, và rằng dục cũng là một phần của cuộc sống chúng. Điều này sẽ giúp cho chúng hiểu hành vi của bố mẹ chúng trong cảnh quan đúng đắn, và khi chúng trưởng thành và kinh nghiệm cuộc sống cho chính mình thì chúng sẽ tràn đầy với kính trọng về tính trung thực của bố mẹ chúng. Cái bắt đầu, trong đứa trẻ, về niềm tin này và kính trọng này sẽ đặt nền tảng cho cuộc sống tôn giáo. Con cái ngày nay nghi ngờ rằng bố mẹ chúng là những kẻ đạo đức giả; do đó có va chạm ý thức hệ hiện đại giữa các thế hệ trẻ và già. Việc ngăn chặn dục đã làm phân tách chồng với vợ và đã đặt con cái chống lại bố mẹ chúng.
Chúng ta không cần kìm nén này về dục; việc làm sáng tỏ dục là nhu cầu của giờ này. Ngay khi con cái chín muồi, ngay khi chúng đòi hỏi, bố mẹ nên đặt ra các sự kiện chính của cuộc sống trước chúng theo một cách có thể chấp nhận được. Điều này nên được làm trước khi con cái trở thành tò mò không cần thiết hay có hại, trước khi chúng bắt đầu nuôi dưỡng sự hấp dẫn không lành mạnh có thể dẫn chúng tới việc thoả mãn tính tò mò của chúng trong những chỗ sai. Ngoài ra, như trường hợp ngày nay, con cái tìm ra điều chúng muốn biết, nhưng chúng tìm nó từ những người sai, chúng tìm nó từ những điều kiện bất thường và qua những thực hành nguy hiểm. Những cách thức này là bất lợi và gây tác hại. Các kết quả gây đau đớn và hành hạ chúng trong phần còn lại cuộc đời chúng, và cuối cùng bức tường xấu hổ và bí mật tồn tại giữa con cái và bố mẹ chúng.
Bố mẹ không bao giờ biết về cuộc sống dục của con cái mình, cũng như con cái dốt nát về cuộc sống dục của bố mẹ chúng. Xa lánh nẩy sinh từ trò chơi trốn tìm này quả thực rất nguy hiểm. Con cái phải được giáo dục đúng đắn về dục; chúng phải được trao cho việc giáo dục đúng đắn.
Thứ hai là, con cái nên được dạy về thiền - cách duy trì bình thản, thanh thản, im lặng; cách để đạt tới trạng thái vô trí. Trẻ con có thể học hoàn thành điều này rất, rất nhanh chóng. Mọi gia đình nên có chương trình theo lịch để giúp cho con cái đi vào trong im lặng. Và điều đó sẽ chỉ có thể, khi bạn, như bậc bố mẹ, cũng thực hành cùng chúng. Một giờ hàng ngày ngồi im lặng nên là yêu cầu trong mọi gia đình. Người ta thậm chí còn nên cắt bỏ một bữa ăn nếu cần thiết, nhưng một giờ im lặng thì phải được tôn trọng bằng mọi giá. Thật là sai mà gọi ngôi nhà là gia đình nơi một giờ im lặng không được tôn trọng hàng ngày. Nó thậm chí không thể được gọi là gia đình.
Một giờ im lặng mỗi ngày sẽ gìn giữ năng lượng. Và thế thì, vào độ tuổi mười bốn, một con sóng sẽ dâng lên và mở tung cánh cửa của thiền - trạng thái đó của thiền nơi con người chạm tới cái vô thời gian và vô ngã, nơi người đó thoáng thấy linh hồn, nơi người đó thoáng thấy điều Tối thượng. Sự gặp gỡ với thượng đỉnh đó trước khi kinh nghiệm dục sẽ đặt dấu chấm hết cho cái xô đuổi điên khùng theo dục; năng lượng sẽ tìm ra con đường tốt hơn, phúc lạc hơn, cao quí hơn.
Đây là giai đoạn thứ nhất trong quá trình vô dục: siêu việt lên dục. Và con đường là thiền.
Nền tảng thứ hai là yêu. Con cái nên được dạy về yêu từ hồi còn thơ. Nỗi sợ thông thường là ở chỗ việc dạy yêu sẽ đưa con người vào trong mê cung của dục. Nhưng nỗi sợ này không có căn cứ. Việc dạy về dục có thể dẫn con người tới yêu, nhưng việc dạy về yêu sẽ không bao giờ lôi người đó vào trong dâm dục cả. Chân lí là xung đột với niềm tin nói chung. Năng lượng dục được biến đổi thành tình yêu.
Con người có khả năng trải rộng tình yêu cho những người quanh người đó theo tỉ lệ trực tiếp với tình yêu phát triển bên trong người đó. Những người trống rỗng tình yêu trút đầy với dục. Và họ vẫn còn là tâm trí hướng dục. Người càng ít yêu, người đó càng nhiều ghét; càng ít tình yêu có trong cuộc sống con người, cuộc sống người đó sẽ càng nhiều thù hận. Và những người trống rỗng tình yêu tràn đầy với ghen tuông theo cùng mức độ. Người càng ít tình yêu người đó lại càng biết nhiều xung đột. Người lo nghĩ và bất hạnh tỉ lệ trực tiếp với việc thiếu tình yêu trong cuộc sống của họ. Và người càng bị nhận chìm nhiều bởi lo nghĩ, ghen tị, phù phiếm, nói dối và những điều như vậy, năng lượng của người đó càng sẽ bị yếu đi nhiều, sẽ trở thành ẻo lả và nhu nhược; người đó sẽ căng thẳng vào mọi lúc. Và lối ra duy nhất cho nhóm xúc động thô thiển, thô bỉ, thấp kém, đê tiện này là dục.
Yêu làm biến đổi năng lượng. Yêu là linh động, sáng tạo, tuôn chảy; nó hoàn thành. Và lòng biết ơn yêu còn nhiều sâu sắc hơn và nhiều giá trị hơn là cái thu được qua dục. Người biết tới sự mãn nguyện đó sẽ không bao giờ tìm kiếm bất kì cái gì thay thế, cũng hệt như người có được đồ châu báu sẽ chẳng bao giờ tìm đá cuội.
Nhưng người tràn đầy với căm ghét không bao giờ có thể tìm ra sự mãn nguyện. Người ấy bao giờ cũng bất ổn; người ấy phá huỷ mọi thứ trên con đường của mình. Và việc phá huỷ không bao giờ đem lại hạnh phúc; chỉ sáng tạo mới có thể mưa rào lên con người với cảm giác biết ơn. Người đầy những ghen tị đang trong giao tranh và cạnh tranh, nhưng là như điều này thì chẳng bao giờ đem lại sự mãn nguyện cả. Người hung hăng chỉ xâm lấn lên người khác.
Phúc lạc chỉ có thể đạt tới được bằng việc cho, không bao giờ bởi việc lấy. Níu bám và tích trữ mọi thứ thấy được sẽ không bao giờ đem lại an bình cho tâm trí, nhưng nó có thể có được bằng việc cho, bằng việc phân phát phúc lành. Người tham vọng nhảy hết chỗ này sang chỗ khác; người ấy chưa bao giờ an bình - nhưng người không theo đuổi quyền lực mà theo đuổi tình yêu, những người phân phát tình yêu ở bất kì đâu và ở mọi nơi, thì sống trong phúc lạc cao quí. Người tràn đầy tình yêu, người ấy ở chiều sâu của sự mãn nguyện, chiều sâu của sự thoả mãn, của niềm vui, của cảm giác đạt tới mà người ấy sẽ tìm thấy trong trung tâm trái tim mình. Người chứng ngộ như vậy sẽ không bận tâm tới dục; người đó thậm chí sẽ không phải cố gắng để không nhìn vào chiều hướng của nó. Bởi vì sự mãn nguyện và phúc lạc được tìm thấy trong dục là có sẵn mãi mãi cho người đó từ tình yêu.
Khẩu hiệu tiếp: hãy trưởng thành tới sự tràn đầy của tình yêu. Chúng ta nên kính yêu tình yêu; chúng ta nên ban tặng tình yêu; chúng ta nên sống trong tình yêu. Nhưng yêu người khác một mình thì không phải là cái tên cho trò chơi này; được hiến dâng cho tình yêu mới là làm đầy toàn thể nhân cách của người ta với tình yêu. Tôi đang nói về việc giáo dục toàn bộ trong việc yêu. Chúng ta nên có khả năng nhặt lên một hòn đá cứ như là chúng ta đang nâng người bạn; chúng ta nên có khả năng bắt tay với kẻ thù cứ như là chúng ta cầm tay của người bạn.
Một số người cầm giữ những thứ vật chất với sự chăm chú yêu thương, trong khi một số người lại dành cho người khác một loại đối xử mà thậm chí không nên trao cho những vật không sống. Với người bận tâm với căm ghét, nhân loại không khá hơn các đối tượng vô tri vô giác; nhưng người tràn đầy tình yêu thậm chí còn truyền đạt một tính cá nhân, một nhân cách, cho mọi thứ người đó chạm tới.
Một lữ khách có học có lần tới thăm một thầy tu, nhà sư khổ hạnh, vô dục. Bởi lí do nào đó người này thấy khó chịu, có lẽ bởi vì cuộc hành trình khó khăn, và người đó giận dữ tháo đôi giầy ra, quăng chúng vào góc nhà và xô cửa mở bằng tiếng động mạnh.
Trong giận dữ, người này đã cởi đôi giầy của mình ra như thể giầy là kẻ thù tồi tệ nhất của mình. Người ấy thậm chí sẽ mở cửa ra dường như có sự thù địch lớn lao giữa người đó và cái cửa. Người này lao qua cửa mở, đi vào, và bầy tỏ sự kính trọng của mình với ông thầy tu.
Ông thầy tu nói, “Không, ta không chấp nhận sự kính trọng của anh. Trước hết hãy đi ra xin lỗi cánh cửa và đôi giầy di đã.”
“Có chuyện gì sai với thầy vậy?” người đó hỏi. “Xin lỗi cánh cửa sao? Và với cả đôi giầy nữa sao? Tại sao? Chúng có sống không?”
Ông thầy tu đáp, “Anh đã không xem xét rằng khi nào anh đem sự giận dữ của mình ra khỏi các vật vô tri vô giác kia. Anh ném mạnh đôi giầy xuống cứ dường như chúng đã phạm tội gì đó, và anh đã mở cửa theo cách nó dường như là kẻ thù của anh. Khi anh có thể nhận ra tính cá nhân của chúng bằng việc rút cơn giận của anh ra khỏi chúng, thì anh cũng nên được chuẩn bị để xin lỗi chúng. Xin anh hãy đi ra trao cho chúng lời xin lỗi của mình. Bằng không ta không có ý sẵn sàng tiếp tục cuộc nói chuyện này với anh.”
Lữ khách hình dung ra rằng vì mình đã tới từ xa để gặp ông thầy tu lừng lẫy này, cho nên sẽ là lố bịch mà chấm dứt việc đối thoại với vấn đề tầm thường thế, cho nên anh ta đi tới đôi giầy và với tay khoanh trước ngực, nói, “Các bạn, tôi xin lỗi về sự xấc láo của mình.” Với cánh cửa anh ta nói, “Xin lỗi. Thật là sai lầm đẩy cửa như vậy trong giận dữ.”
Một khoảnh khắc tuyệt vời cho anh ta!
Trong hồi kí của mình lữ khách này đã viết rằng ban đầu anh ta cảm thấy rất lố bịch, nhưng rồi khi anh ta đã kết thúc việc đưa ra lời xin lỗi thì cái gì đó mới đã rạng lên trong anh ta: anh ta cảm thấy bình thản thế, thanh thản thế, an bình thế. Điều đó vượt ra ngoài những tưởng tượng hoang dại nhất mà con người có thể cảm thấy tĩnh lặng thế, bình tĩnh thế và vui vẻ thế chỉ bằng việc xin việc tha thứ của cánh cửa và đôi giầy.
Sau khi anh ta đã đưa ra lời xin lỗi, anh ta đi vào và ngồi xuống bên cạnh ông thầy tu, ông này bắt đầu cười và nói, “Bây giờ thì được rồi. Bây giờ anh đã hoà hợp. Bây giờ chúng ta có thể nói chuyện. Bây giờ anh đã bầy tỏ được tình yêu nào đó và không nặng gánh. Bây giờ có thể có mối quan hệ giữa chúng ta.”
Nguyên tắc này không chỉ cho tình yêu riêng con người, nó là vấn đề về tràn ngập với tình yêu.
Nói người ta phải yêu mẹ mình là sai; đấy là sự xuyên tạc. Nếu người bố yêu cầu đứa con phải yêu anh ta chỉ bởi vì anh ta là bố thì đấy là sự lừa dối; anh ta đang đưa ra lí do về tình yêu. Tương tự, nếu người mẹ bảo đứa con mình là nó phải yêu mình bởi lí do đơn giản là cô ta là mẹ, đấy là sự lừa gạt. Tình yêu có dòng chữ “bởi vì” và “do đó” gắn kèm với nó là bị đặt tên sai. Tình yêu nên vô động cơ; nó không nên bị sa lầy vào những lí do. Người mẹ nói, “Mẹ chăm sóc con; mẹ nuôi nấng con, do đó hãy yêu mẹ.” Cô ấy đang đưa ra lí do. Và do đó, tình yêu chấm dứt. Nếu đứa trẻ bị bó buộc, nó có thể phải bầy tỏ một cách miễn cưỡng sự yêu mến nào đó bởi vì cô ấy là mẹ nó, nhưng mục đích của việc dạy tình yêu lại không phải là bắt buộc đứa trẻ phải bầy tỏ tình yêu vì lí do nào đó, mà để tạo ra môi trường trong đó đứa trẻ sẽ tràn đầy tình yêu.
Cần phải làm cho bạn hiểu rằng sự trưởng thành của đứa trẻ, toàn bộ nhân cách của nó, toàn bộ tương lai của nó, đều phụ thuộc vào niềm vui này ở việc yêu mến bất kì ai hay bất kì cái gì nó gặp - dù đó là tảng đá, con người, đoá hoa, con vật, bất kì cái gì. Vấn đề không chỉ là yêu con vật hay đoá hoa hay mẹ nó hay ai đó khác, toàn bộ vấn đề là để cho đứa trẻ được tràn đầy tình yêu. Phụ thuộc vào điều này không chỉ tương lai của nó, mà cả tương lai của nhân loại. Khả năng cực kì lớn lao cho việc nở hoa của niềm vui và hạnh phúc trong cuộc sống con người tuỳ thuộc vào bao nhiêu tình yêu có đấy bên trong người đó. Người đang yêu cũng có thể được giải phóng khỏi tình dục. Nhưng chúng ta không ban tặng tình yêu; chúng ta không sốt sắng vì tình yêu.
Bạn có cho rằng người ta có thể yêu người này và ghét người khác cùng lúc được không? Không, điều đó là không thể được. Người đang yêu, cho dù khi người đó một mình, cũng vẫn tràn đầy tình yêu bởi vì tình yêu là bản tính của người đó; nó chẳng liên quan gì tới mối quan hệ của bạn với người đó. Người giận dữ thì giận dữ khi người đó một mình. quan sát một người như vậy khi người đó một mình và bạn sẽ cảm thấy cái giận dữ của người đó cho dù người đó có thể không biểu lộ cái giận dữ của mình cho bất kì ai riêng vào lúc đó. Toàn bộ bản thể người đó đơn giản tràn ngập với căm ghét, với giận dữ. Ngược lại, nếu bạn gặp một người tràn đầy tình yêu, thì bạn có thể cảm thấy người đó tràn đầy với tình yêu khi người đó một mình.
Hoa nở bung trong rừng rậm lan toả hương thơm của chúng dù có ai đó ở đó để tán thưởng hay không, dù có ai đi qua đó hay không. Toả hương thơm là bản tính của hoa. Bạn đừng có ảo tưởng rằng hoa tiết ra hương thơm chỉ để dành cho bạn!
Mọi người nên đơn giản tràn đầy tình yêu; nó không nên phụ thuộc vào “với ai đó.” Nhưng người yêu muốn người được yêu chỉ yêu mình, không yêu ai khác. “Hãy yêu mình anh thôi,” anh ta nói, nhưng anh ta không biết rằng những người không thể yêu được tất cả thì cũng không thể yêu được một người. Vợ nói chồng phải yêu chỉ mình cô ấy và không được bầy tỏ sự yêu mến với bất kì ai khác, nhưng cô ấy không hiểu rằng tình yêu như vậy là dối trá và rằng cô ấy đã làm cho nó phải là như vậy. Làm sao người chồng, người không bao giờ tràn đầy tình yêu với mọi người lại có thể đang yêu vợ mình được?
Yêu là bản tính của cuộc sống. Người ta không thể tràn đầy tình yêu với một người và trống rỗng tình yêu với mọi người khác. Nhưng nhân loại vẫn chưa có khả năng thấy chân lí đơn giản này. Bố yêu cầu con yêu mình, nhưng bố đã bao giờ dạy đứa con yêu người phục vụ già trong nhà không? Người ấy chẳng phải là con người sao? Người phục vụ có thể già, nhưng người đó cũng có thể là bố của ai đó. Không, người đó chỉ là người phục vụ, và do vậy không có vấn đề nhã nhặn hay yêu mến hướng tới người đó. Nhưng người bố này không hiểu rằng khi anh ta già đi, anh ta sẽ phàn nàn khi đứa con mình không bầy tỏ cho mình thương yêu nào. Con anh ta có thể lớn lên thành người tràn đầy tình yêu nếu như chúng đã được dạy yêu tất cả. Và thế thì chúng sẽ kính trọng người bố già của chúng nữa.
Tình yêu không phải là mối quan hệ, tình yêu là trạng thái của tâm trí. Nó là thành phần tinh tuý của nhân cách con người. Do đó, giai đoạn thứ hai trong việc dạy tình yêu là dạy cho con trẻ yêu tất cả. Nếu đứa trẻ thậm chí không đặt lại một cuốn sách cho đúng, thì sự chú ý của nó nên được hướng tới sự kiện rằng việc đặt lại cuốn sách theo cách đó là không thích hợp. Nó nên được làm cho nhận biết về điều mọi người sẽ nghĩ về nó nếu nó đối xử với sách vở theo cách đó. Nếu bạn đã hành xử tàn nhẫn, thậm chí với con chó của bạn, điều đó chỉ ra việc khan hiếm trong nhân cách của bạn; nó là bằng chứng rằng bạn trống rỗng tình yêu. Và người không tràn đầy tình yêu thì không phải là con người chút nào.
Tôi nhớ câu chuyện về một thầy tu sống trong một chiếc lều nhỏ. Một đêm, quãng nửa đêm, trời mưa to và ông thầy tu cùng vợ đang ngủ. Bỗng nhiên, có tiếng gõ cửa: ai đó muốn vào trú ẩn.
Ông thầy tu đánh thức vợ dậy. “Ai đó đang ở ngoài,” ông ấy nói. “Một lữ khách nào đó, người bạn chưa biết nào đó.”
Bạn có để ý không? Ông ấy nói, “Một người bạn chưa biết nào đó.” Bạn thậm chí còn không thân thiện với cả những người bạn biết. Thái độ của ông ấy là thái độ của tình yêu.
Ông thầy tu nói, “Một người bạn chưa biết nào đó đang đợi bên ngoài. Mở cửa ra đi.”
Vợ ông ấy nói, “Hết chỗ rồi. Thậm chí chẳng đủ chỗ cho hai chúng ta. Làm sao một người nữa có thể vào được?”
Ông thầy tu đáp, “Em yêu, đây không phải là cung điện của người giầu. Nó không thể trở thành nhỏ hơn được. Cung điện của người giầu dường như là nhỏ hơn nếu thậm chí một khách nữa tới, nhưng đây là cái lều của người nghèo.”
Vợ ông ta hỏi, “Sao vấn đề nghèo giầu lại chui vào đây được? Sự kiện rõ ràng là ở chỗ đây là cái lều rất nhỏ!”
Ông thầy tu trả lời, “Nếu có đủ chỗ trong lòng người ta, thì người ta sẽ cảm thấy rằng cái lều này là cung điện, nhưng nếu lòng người ta chật hẹp, cho dù cung điện cũng dường như nhỏ. Mở cửa đi. Làm sao chúng ta có thể từ chối người đã tới cửa nhà chúng ta? Cho tới nay, chúng ta đã nằm. Ba người có thể không nằm được, nhưng ít nhất ba người có thể ngồi. Có chỗ cho người khác nếu tất cả chúng ta đều ngồi.”
Người vợ ra mở cửa. Người khách đi vào, ướt sũng. Họ ngồi với nhau và bắt đầu nói chuyện. Sau một lúc, hai người nữa tới và gõ cửa.
Ông thầy tu nói, “Dường như là ai đó khác lại đến,” và yêu cầu ông khách ngồi xích lại gần cửa nhất để mở nó. Người này nói, “Mở cửa sao? Hết chỗ rồi.” Người này, người mà bản thân mình đã xin trú ngụ trong chiếc lều mới khoảnh khắc trước, đã quên mất rằng không phải là tình yêu của ông thầy tu đối với mình đã cho anh ta chỗ, mà là anh ta đã tìm thấy chỗ trú ngụ bởi vì có tình yêu trong chiếc lều. Và bây giờ, vài người mới đã tới. Và tình yêu phải dàn xếp cho người mới tới.
Nhưng người này nói, “Không, không cần mở cửa. Ông không thấy chúng ta đã khó khăn thế nào sao, ngồi chồm hỗm ở đây?”
Ông thầy tu nói, “Anh bạn thân mến ơi, tôi đâu có làm ra chỗ cho anh? Anh đã được phép vào bởi vì có tình yêu ở đây. Nó vẫn còn ở đây; nó không hết với anh. Mở cửa ra đi. Bây giờ chúng ta đang ngồi tách xa nhau, cho nên chúng ta sẽ đơn giản túm tụm lại với nhau. Hơn nữa, đêm lại lạnh và điều đó sẽ cho chúng ta hơi ấm và vui thích để ngồi một cách ấm cúng với nhau.”
Cánh cửa mở ra và hai người mới bước vào. Tất cả họ ngồi sát nhau và bắt đầu làm quen với nhau.
Thế rồi, một con lừa tới và lấy đầu đẩy vào cửa. Con lừa ướt sũng; nó muốn trú ẩn qua đêm. Ông thầy tu yêu cầu một trong những người này, người gần như ngồi lên chóp cánh cửa, ra mở nó. “Người bạn mới đã tới,” ông thầy tu nói.
Lén nhìn ra ngoài, người này nói, “Đây không phải là người bạn hay bất kì cái gì giống như người bạn cả. Đấy chỉ là con lừa. Không cần mở cửa.”
Ông thầy tu nói, “Có lẽ anh không biết rằng tại cửa của nhà giầu mọi người đều bị đối xử như con vật, nhưng đây là túp lều của thầy tu nghèo và chúng ta đã quen đối xử ngay cả con vật cũng như con người. Xin mở cửa ra.”
Trong nhất trí, mọi người rên rỉ, “Nhưng chỗ đâu?”
“Có đầy chỗ. Thay vì ngồi, tất cả chúng ta có thể đứng.
Chớ giận. Nếu cần tôi sẽ đi ra ngoài và sẽ đủ chỗ.”
Tình yêu có thể không làm được nhiều như thế này sao?
Điều bắt buộc là phải có trái tim tràn đầy tình yêu. Thái độ yêu thương là điều tất cả chúng ta đều phải có.
Nhân đạo chỉ được sinh ra trong một người khi người đó có trái tim yêu thương. Và với trái tim yêu thương đó thì cảm giác mãn nguyện sâu lắng tới, mãn nguyện sâu sắc và vui sướng. Bạn đã bao giờ để ý, sau khi bạn bầy tỏ một chút tình yêu với ai đó, rằng một con sóng lớn về mãn nguyện, xúc động lớn về niềm vui tràn ngập khắp bản thể bạn không? Bạn chưa bao giờ hiểu rằng những khoảnh khắc thanh thản nhất của mãn nguyện là những khoảnh khắc tới trong tình yêu vô điều kiện sao?
Tình yêu thuần khiết chỉ có thể tồn tại nếu nó không bị pha trộn bởi các điều kiện; tình yêu có điều kiện không phải là tình yêu. Bạn đã bao giờ có cảm giác về mãn nguyện sau khi đã mỉm cười với người lạ trên phố không? Làn gió thoảng của an bình có theo sau nó không? Không có giới hạn về con sóng niềm vui thanh bình mà bạn cảm thấy khi bạn nâng một người bị ngã, khi bạn đỡ cho người bị ngã, khi bạn tặng hoa cho người ốm - nhưng không phải khi bạn làm nó bởi vì người đó là bố bạn hay bởi vì người đó là mẹ bạn. Không, người này có thể không phải là bất kì ai đặc biệt đối với bạn, nhưng đơn giản việc trao món quà bản thân nó là phần thưởng lớn, hài lòng lớn.
Tình yêu nên tuôn ra từ bên trong bạn - tình yêu với cây cỏ, tình yêu với con người, tình yêu với người lạ, tình yêu với người ngoại quốc, tình yêu với những người đang trên đường của họ tới mặt trăng và các vì sao. Tình yêu của bạn bao giờ cũng nên tăng mãi.
Khả năng của dục trong cuộc sống con người nhỏ đi khi tình yêu tăng lên bên trong người đó. Tình yêu và thiền sẽ mở ra cánh cửa đó, cánh cửa tới Thượng đế. Cùng nhau, tình yêu và thiền chạm tới Thượng đế, và thế thì vô dục nở hoa trong cuộc sống con người. Thế thì toàn bộ sinh lực thăng hoa qua bước chuyển mới. Thế thì nó không dò rỉ đi dần dần; thế thì nó không bao giờ rút đi. Năng lượng dâng lên từ bên trong; nó dâng lên trong cuộc hành trình của mình tới thiên đường. Cuộc hành trình của chúng ta, hiện tại, là hướng về các mức thấp hơn. Theo bản chất, năng lượng chỉ chảy xuống, vào dục, nhưng vô dục lại là cuộc hành trình đi lên. Và tình yêu và thiền là chất liệu cơ sở của vô dục.
Ngày mai chúng ta sẽ nói về điều chúng ta đạt tới qua vô dục. Chúng ta thu được gì? Nó đưa chúng ta tới những đỉnh cao nào?
Hôm nay tôi nói với bạn về hai điều: tình yêu và thiền. Tôi đã bảo các bạn rằng việc huấn luyện nên bắt đầu từ giai đoạn trẻ thơ, nhưng bạn không nên suy diễn từ điều này rằng vì bạn không phải là trẻ con nữa nên chẳng có gì còn lại cho bạn làm cả. Trong trường hợp đó, phòng thí nghiệm của tôi sẽ phí hoài. Dù độ tuổi của bạn là gì, công việc tốt lành này cũng có thể được bắt đầu vào bất kì ngày nào. Mặc dầu nó trở thành vất vả hơn với việc tuổi già tới, cuộc hành trình trên con đường này có thể được tiến hành vào bất kì lúc nào trong cuộc đời. Tốt hơn cả là bắt đầu cuộc hành trình này từ thời trẻ thơ, nhưng cũng tốt để tiến hành nó vào bất kì giai đoạn nào trong cuộc sống. Bạn có thể bắt đầu hôm nay. Người già hơn, người sẵn lòng học hỏi, người có thái độ học hỏi, thì vẫn là trẻ thơ cho dù họ đã già nhiều tuổi. Họ, cũng được, có thể bắt đầu lại lần nữa; họ, cũng được, có thể học, nếu họ không coi rằng họ đã biết mọi điều hay rằng họ đã đạt tới mọi điều mong muốn.
Phật Gautam có một đệ tử, đã là một người sùng kính trong nhiều năm, và một hôm Phật hỏi người đó, “Sư ông, ông bao nhiêu tuổi rồi?”
Sư đáp, “Năm tuổi.”
Phật ngạc nhiên. “Năm tuổi sao? Ông trông ít nhất cũng phải bẩy mươi. Đây là loại câu trả lời gì thế này?”
Sư đáp, “Tôi nói điều này bởi vì tia sáng thiền đã đi vào cuộc đời tôi năm năm trước đây, và chỉ trong năm năm qua tình yêu đã mưa rào trong đời tôi. Trước đó, cuộc sống tôi giống như giấc mơ; tôi tồn tại trong giấc ngủ. Khi đếm tuổi mình tôi không tính tới những năm đó. Làm sao tôi có thể tính được? Cuộc sống thực của tôi chỉ bắt đầu năm năm trước đây. Tôi mới năm tuổi,”
Phật bảo tất cả các đệ tử ghi rõ lại câu trả lời của sư này.
Tất cả các bạn nên đếm tuổi mình theo cách này; đây là chuẩn cho việc tính tuổi. Nếu yêu và thiền còn chưa được sinh ra trong bạn, thì cuộc sống của bạn, mãi cho tới nay, là tiêu cực; bạn vẫn còn chưa được sinh ra. Nhưng cũng chẳng bao giờ quá muộn để bạn không thể bắt đầu thử. Tất cả chúng ta nên cố gắng đạt tới cuộc sống cao hơn. Và với điều đó thì không bao giờ là quá chậm cả.
Cho nên đừng kết luận từ lời tôi, bởi vì bạn đã trải qua thời kì trẻ thơ, nên câu chuyện này chỉ có ý nghĩa cho các thế hệ tương lai. Không lúc nào có người nào đi xa trên con đường sai đến mức người đó không thể trở về con đường đúng được; không người nào đã trở thành bướng bỉnh đến mức người đó không thể nào được lợi từ ánh sáng đúng.
Nói một cách so sánh, cuộc hành trình này không đòi hỏi nhiều nỗ lực. Việc quay trở lại trong sự hoàn thành và thoả mãn vào lúc bừng lên chứng ngộ còn lớn hơn nhiều so với bất kì nỗ lực nào bạn đã làm. Cái thoáng nhìn đơn thuần về tia sáng đó, về niềm vui đó, về chân lí đó, cho chúng ta cảm giác chúng ta đã đạt tới nhiều thế với ít nỗ lực thế; nó chỉ ra cho chúng ta là chúng ta đã đạt tới cái vô giá với những nỗ lực quả thực rất không đáng kể.
Xin đừng xét lời tôi theo khuôn khổ sai của tâm trí. Đây là yêu cầu khiêm tốn của tôi với tất cả các bạn.